Các nguyên lý sáng tác và thiết kế

Nguyên lý này hướng dẫn chúng ta phân bố các yếu tố thị giác trên cơ sở “điểm” và “hướng tập trung là tâm” của không gian hai hoặc ba chiều. Từ nguyên lý này chúng ta có khái niệm về “hướng tâm” và “ly tâm”. Nguyên lý này còn nhắc nhở chúng ta rằng tác phẩm nào, không gian nào cũng cần có sự xác định sẵn các điểm phụ, điểm chính, điểm nhấn và bộ phận nào giữ vai trò là sự định hướng, nguyên lý này là nền tảng của nguyên lý điểm nhấn. Nguyên lý sáng tác: là nguyên lý chung cho tất cả các loại nghệ thuật bao gồm nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác và nghệ thuật thính thị giác (nghệ thuật tổng hợp).

Tại sao phải nghiên cứu về thị ảo giác?

Bản chất của nghệ thuật thị giác là nghệ thuật không gian. Hình tượng trong tác phẩm luôn luôn ở trạng thái đứng im, bất động… Nghệ thuật thị giác thường ở dạng mặt phẳng, hình khối ba chiều và môi trường. Nhờ tài năng của nghệ sỹ hội họa, điêu khắc, đồ họa, thiết kế thời trang, thiết kế ánh sáng cho nên những dạng thị ảo giác (ảo giác về chiều dài, chiều cao; ảo giác về độ lớn; ảo giác về chiều hướng; ảo giác về độ sáng tối; ảo giác về màu nóng lạnh; ảo giác về độ xa gần; ảo giác về độ rung động; ảo giác về sự chuyển động) đã được nghiên cứu ứng dụng…

Các quy luật có liên quan đến tỷ lệ vàng

Tỷ lệ vàng, quy luật chia làm ba và quy luật lẻ là những kiến thức phục vụ cho việc bố cục tác phẩm mỹ thuật. Tuy nhiên điểm đặc sắc của tác phẩm nghệ thuật thường nằm nơi cách nhìn, cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, cái riêng, cá tính, thị hiếu thẩm mỹ, cảm xúc và tài năng diễn tả của chủ thể sáng tạo. Bởi lẽ, nếu ai cũng biết và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật mà lại thiếu những phần vừa nói thì tác phẩm sẽ khô cứng, không thu hút được mọi người.

Các vấn đề có liên quan đến thị giác (Phần 1)

Tín hiệu thị giác hàm chứa những yếu tố như sau: Văn hóa, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, lịch sử, hình thái giao tiếp, đẳng cấp chuyên môn: như trình độ thẩm mỹ, kỹ thuật thể hiện. Nhìn tổng quan chúng ta thấy có 2 dạng tín hiệu thị giác: Một là dạng có quy ước, hai là dạng không có quy ước (dạng tín hiệu tổng hợp do sự sáng tạo của nghệ sĩ thị giác).

Các vấn đề có liên quan đến thị giác (Phần 2)

Thị ảo giác hay ảo giác thị giác (Visual Illusion) là hiện tượng không có thật do sự cảm nhận sai của con mắt mà con mắt cứ tưởng là có thật. Nó là hiện tượng có thật do sự tương tác bởi sự bố trí về vị trí, về hình thể, về chiều hướng, về độ lớn, về khoảng cách về sắc độ, về cường độ, về tính chất, mức độ nóng lạnh của màu sắc, về chất liệu được sử dụng trong các yếu tố hình thức.

Đặc trưng của ngôn ngữ mỹ thuật

Ngôn ngữ tạo hình được hình thành bởi các yếu tố tạo hình thông qua khả năng diễn tả của nghệ sỹ tạo hình. Mà bản thân nghệ sỹ tạo hình đều có nhân sinh quan, thế giới quan, cách nhìn, thị hiếu, trình độ thẩm mỹ và trình độ chuyên môn, khả năng sáng tạo của mỗi người.

Nội dung và bố cục tranh trong Diễn họa kiến trúc

Sự chính xác trong diễn họa rất quan trọng nhưng không nên quá mức. Các khách hàng có chuyên môn muốn tạo một ấn tượng chính xác về vị trí và quy mô của công trình, về màu sắc và chất liệu và về những chi tiết kiến trúc của các công trình lân cận, đường phố và cảnh quan. Sự phân chia chính xác các khung cửa sổ hay các bóng đổ có lẽ ít quan trọng hơn.

Các cách tạo hình cụ thể (Phần 1)

Tạo hình theo hướng cách điệu (stylised visuaslisation) là sự cố gắng nghiên cứu cẩn trọng để sau đó tạo nên phong cách nghệ thuật riêng cho cá nhân, cho nhóm tác giả, cho thời đại, cho quốc gia, cho dân tộc… Chính tư duy này tạo nên sự khác biệt. Khi phải tạo hình phục vụ cho những yêu cầu cụ thể thì chúng ta phải nghiên cứu các phong cách tạo hình đã đang có thời đại, vùng lãnh thổ, nét văn hóa của đối tượng muốn kết nối, để tạo nên nét riêng cho yêu cầu tạo hình mới. Giải pháp tạo hình theo hướng cách điệu thường ứng dụng trong nghệ thuật trang trí của nhiều dân tộc trên thế giới. Bởi lẽ thuở xa xưa người ta không quan tâm nhiều đến mô tả chi ly.

Các cách tạo hình cụ thể (Phần 2)

Tạo hình theo cách biến hình là sáng tạo hình tượng có sự chuyển hóa về hình thức và ý tưởng nhằm tợi nên sự liên tưởng cho người xem. Cách này có ưu điểm lớn hơn kiểu tạo hình tả thật bởi lẽ nó không hề bị quy ước bởi không gian, cách tạo hình vật lý hay logic luận thông thường. Các nghệ sỹ phái siêu thực hay áp dụng cách tạo hình này.

Phân tích các nguyên lý thị giác (Phần 2)

Nguyên lý về sự thăng bằng nhằm đề cập đến thế vững chãi hay lệch đổ của các yếu tố hình thức trên một không gian nào đó (hai chiều hay ba chiều) của tác phẩm. Người ta còn gọi nguyên lý này là các mối quan hệ về thăng bằng.

Phân tích các nguyên lý thị giác (Phần 1)

Nguyên lý về sự thăng bằng nhằm đề cập đến thế vững chãi hay lệch đổ của các yếu tố hình thức trên một không gian nào đó (hai chiều hay ba chiều) của tác phẩm. Người ta còn gọi nguyên lý này là các mối quan hệ về thăng bằng.

Nền văn minh ảnh hưởng đến mỹ thuật

Tên gọi là: “Nền văn minh Lưỡng Hà” (3500-500 trước Công nguyên). Khu vực nguyên thủy là Đông Bắc núi Zagros, Đông Nam cao nguyên Ả Rập. Khu vực hiện tại gồm: Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ. Nghĩa là vùng đất giữa các con sông cổ Hy Lạp. Euphrate và Tirgis. Đây là nền văn minh đầu tiên của thế giới.

Phân tích các nguyên lý thị giác (Phần 3)

Bên trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào cũng vậy, nó phải có sự tổ chức chặt chẽ từ một ý thức nghiêm túc hay từ một công việc vô cùng nhuần nhuyễn đến độ như là một chuỗi thao tác “như chơi” không cần cân nhắc như sự thiếu vắng sự can thiệp của ý thức. Tuy nhiên, cho dù thao tác của người mới vào nghề hay lão luyện thì kết quả cũng phải là một sự tổ chức, phân bố nội dung và hình thức một cách hợp lý.

Nghệ thuật và Thủ Công thời Victoria

Nghệ Thuật và Thủ Công hướng tới thẩm mỹ thời Trung Cổ (Gothic) và tư duy rằng nghệ thuật nằm ở cái đẹp trong chính những vật dụng xung quanh ta chứ không chỉ ở hội họa hay kiến trúc. Nghệ Thuật và Thủ Công tôn vinh cái đẹp và sự khéo léo trong bàn tay của thợ thủ công, đồng thời đưa thợ thủ công – hay nghệ nhân đứng ngang hàng với nghệ sĩ.

0976984729