Đại học Mỹ thuật công nghiệp

Nghệ thuật minh họa thời trang

Nghệ thuật nhiếp ảnh lẫn minh họa thời trang đều thuộc những loại hình nghệ thuật. Quá trình sáng tạo của hai loại hình này là một ngành khoa học tinh vi và phức tạp. Những khi thực hiện đúng cách thì nó trở nên vô cùng đơn giản, người xem sẽ cảm nhận được tính sống động và độ rõ nét của bức ảnh. Vậy thì nghệ thuật minh họa thời trang là gì? Khi đó nó không còn là một bản vẽ hay bức ảnh chụp trong tờ tạp chí thời trang. Ngành này không những trình bày trang phục mà còn thiết kế kiểu mẫu nhằm gợi lên cảm xúc cho người mộ điệu. Có nghĩa là nó tạo sức thuyết phục cho bạn.

Bài viết này dành cho những người mới bắt đầu nghiên cứu nghệ thuật. Nó chứa một danh sách các câu hỏi hướng dẫn sinh viên ngành mỹ thuật nói riêng và những người mới nghiên cứu nghệ thuật nói chung về cách phân tích một tác phẩm nghệ thuật. Các câu hỏi bao gồm một loạt các thuật ngữ nghệ thuật chuyên môn, khuyến khích mọi người sử dụng từ vựng theo chủ đề cụ thể trong các câu trả lời. Ngoài ra, nó cũng kết hợp lời khuyên từ các chuyên gia, cố vấn nghệ thuật và các giáo viên mỹ thuật, những người có kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy khái niệm trong nhà trường.

Tranh in độc bản

In độc bản là phương pháp in đồ họa chỉ cho ra một tranh in duy nhất. Có ý kiến cho rằng, in độc bản là loại tranh lai ghép hay pha tạp đầy tranh cãi. Nó không phải là tranh in, cũng không phải là hội họa, mà là một sự kết hợp của cả haii. Điều này chưa thật chính xác bởi tranh in độc bản mang ý nghĩa là tranh in ngay trong tên gọi của nó ở bất kỳ ngôn ngữ nào. Song, nói đó là sự kết hợp của hội họa và đồ họa in ấn thì không hoàn toàn sai. Trong các cách thể hiện tranh in độc bản có kỹ thuật bôi, vẽ màu lên bề mặt khuôn in đúng theo nguyên tắc hội họa và tranh in ra từ đó có hiệu quả thẩm mỹ của hội họa. Tuy nhiên, khi đã in ra giấy thì hình ảnh in kiểu đó lại thuộc phạm vi đồ họa in ấn.

Các thể loại cơ bản của tranh in

Quá trình phát triển của nghệ thuật tranh in luôn gắn với các bước tiến của khoa học, công nghệ vật liệu và in ấn. Đó chính là sự khác biệt của tranh in với các loại hình nghệ thuật thị giác hai chiều khác. Người họa sĩ tranh in không chỉ sáng tạo bằng khả năng tạo hình, tư duy thẩm mỹ, mà còn bằng sự tìm tòi, khám phá, làm chủ các phương pháp chế bản, in ấn và những chất liệu, kỹ thuật cần thiết.

Kỹ xảo vẽ mỹ thuật bát và siêu nước

Chúng ta thường nói, vẽ phải dựa vào các cảm giác, nhưng đối với một số đồ vật muốn nắm vững chúng phải gác bỏ cảm giác, đó là loại cần giải phẫu và phối cảnh: thứ ba là cần phải làm hài hòa mối quan hệ giữa tổng thể và cục bộ, và cái khó là ở chỗ, không phải là vấn đề biểu hiện như thế nào, mà còn phải biết cách dùng phương pháp tư duy biện chứng để xử lí mặt tranh.

Nguồn gốc và quá trình PT tranh in nổi

Lịch sử loài người ghi nhận rằng kỹ thuật tạo khuôn in nổi bằng đất nung hay đá đã có từ thời văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà. Con người thời đó sử dụng chúng để nhân bản các ký tự, dấu hiệu nào đó trên các chất liệu khác nhau. Tuy nhiên, phương pháp nhân bản các tín hiệu thị giác chỉ trở nên hiệu quả và phát triển sau khi con người phát minh ra giấy. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Trung Quốc đã sáng tạo ra cách in thô sơ đầu tiên - in rập, vào khoảng thế kỷ thứ 2, sau khi họ phát minh ra giấy. In rập là hình thức in nổi xuất hiện trước khi khắc gỗ ra đời.

PP Thẩm định tranh nghệ thuật trong NT

Khi đầu tư vào lĩnh vực nghệ thuật hội họa thì cần phải xác định tác phẩm nghệ thuật có chất lượng cao hay không, sẽ đòi hỏi bạn phải có kiến thức nghiên cứu về hội họa và trào lưu nghệ thuật hoặc thuê cố vấn nghệ thuật, người có thể giúp bạn quyết định đầu tư vào tác phẩm để nắm lấy tất cả các phong cách nghệ thuật khác nhau, hãy đưa ra quyết định theo cảm nhận của riêng mình, bởi vì đây là nghệ thuật phản ánh sở thích của riêng cá nhân.

 Tranh in độc bản màu nước

Tranh in độc bản màu nước là tranh in chỉ có một bản duy nhất được thể hiện bởi các dạng màu gốc nước. Trong thực hành tranh in độc bản màu nước trên thế giới người ta thưởng sử dụng không chỉ màu nước (aquarelle) mà cả các màu tự nhiên ở dạng nước chiết xuất từ thực vật, khoáng sản và các màu tan trong nước như guát, bột màu. Nhìn chung, từ "màu nước" ở đây chỉ các loại màu gốc nước và tan trong nước, tuy nhiên, trong thực tế thì màu aquarelle được sử dụng nhiều hơn cả. Cho đến nay, người viết chưa tiếp cận được tài liệu nào có thông tin chính xác về sự ra đời của tranh in độc bản màu nước.

MANDALA trong bố cục tạo hình kiến trúc

Mandala thường được làm bằng cát nhuộm màu, được các tu sĩ tạo ra với rất nhiều chi tiết rất tỉ mỉ và sau đó lại được quét bỏ đi để nói lên tính vô thường trong phật giáo. Mandala xuất phát từ tiếng Phạn, có nghĩa là vòng tròn, trung tâm, thống nhất và toàn vẹn. Gốc của chữ “manda” là cơ bản tinh khiết và “la” là dung chứa. Như vậy ý nghĩa của Mandala là hình vẽ có thể chứa được những gì linh thiêng nhất cuộc sống.

Hình tượng con ngựa trong điêu khắc đá

Nghệ thuật tạo hình con ngựa thời Lê Trung Hưng (1533–1789) là một trong những điểm nhấn trong điêu khắc cổ Việt Nam. Đây là một trong những giai đoạn mà ngựa có số lượng tác phẩm nhiều nhất, mạnh mẽ nhất. Các nghệ nhân điêu khắc dân gian đã tạo nên những con ngựa đá có kích thước lớn cùng cách tạo hình phối hợp cả nghệ thuật tượng trưng và nghệ thuật hiện thực. Dù là những nghệ sĩ khuyết danh xây dựng đình, chùa, đền, lăng... đi kèm cùng hệ thống tượng thờ không bận tâm đến lưu danh thiên cổ nhưng những phường thợ xưa đã làm nên một bản sắc văn hóa trường tồn qua hình tượng con ngựa đá trong mỹ thuật Việt Nam thời kì phong kiến nói chung, thời kì Lê Trung Hưng nói riêng.

Tuyến liên kết – Khung cơ bản

Tuyến liên kết – Khung cơ bản là dạng kết cấu nhiều thanh (tuyến liên kết) kết nối với hệ khung gốc (khung cơ bản) để tạo ra một diện phẳng, diện cong hay một không gian nào đó.

Nguồn gốc và QT phát triển tranh in lõm

Khắc chạm (engraving) thuộc nhóm kỹ thuật khắc nét trực tiếp. Trong khắc chạm, người ta dùng mũi dùi có diết diện hình tam giác hay hình thoi để khắc các rãnh sâu nhằm tạo hình đường nét diễn tả. Các nét khắc có tính chất gọn, đánh sắc, và có tính điệu ít mềm mại bởi khi chế bản phải dùng lực mạnh để xúc, dũi bay đi phần kim loại tại đường khác.

Trật tự thị giác

Các tác phẩm đều được các họa sỹ sáng tác và bố cục nhằm mục đích phụ họa và lan tỏa ấn tượng tạo ra bưởi bất kỳ yếu tố riêng lẻ. Ví dụ, hình dáng tổng thể của bức tranh Liễu rụng bên núi xa (Hình 57) liên kết mật thiết với những đường cong và sắc thái tương phản nhẹ nhàng được sử dụng để truyền tải ý tưởng của họa sỹ về phong cảnh. Cũng như thế, bản vẽ của Picasso (Hình 58) có một mối quan hệ chặt chẽ với tờ giấy mà nó được vẽ trên đó.

Nguồn gốc và QTPT của tranh in xuyên

Trong thể loại tranh in xuyên có hai kỹ thuật thể hiện là in trổ khuôn và in lưới (còn gọi là in lụa). Bản chất của kỹ thuật in trổ khuôn nằm ở chỗ phần in và không cần in phân biệt với nhau bởi phần hở và phần được che chắn nằm trên khuôn in. Khuôn in đó được trổ thủng hay cắt từ các vật liệu có dạng mỏng như giấy, nhựa, da thú, vải.. hoặc sử dụng vật thể có sẵn rồi phun màu, bôi màu cho nó đi qua các khoảng thủng, khoảng hở để tạo hình in trên một bề mặt chất liệu khác.

Không gian trong tranh

Khi bàn về màu sắc chúng ta thấy rằng mỗi sắc độ sẽ tương ứng với một khoảng cách nhất định, màu đỏ và các màu ấm trông có vẻ gần ta hơn là màu xanh da trời và màu lạnh. Trước đó, chúng ta cũng được biết rằng sự tương phản sáng tối có thể khơi gợi trong ta một số cảm giác về chiều sâu. Bức họa Phong cảnh mùa đông của họa sỹ Rembrandt (hình 32) còn cho ta thấy rằng đường nét cũng sở hữu khả năng tạo ấn tượng về chiều sâu. Một vài nét bút đậm, hướng nét vẽ theo đường chéo trong một phần của bức tranh cộng thêm vài nét vẽ mờ nhạt khác là tất cả những gì Rembrandt cần để mô tả khung cảnh đồng quê trải dài về phía xa. Rõ ràng là chúng ta rất nhạy cảm với chiều sâu, vì chỉ với sự kết hợp tối giản nhất của nét vẽ, màu sắc hay mảng sáng tối chúng ta đã có được ấn tượng về nó.