Vẽ tranh Phong cảnh có nước (Phần 2)
5. Ánh phản chiếu:

a. Mặc dù chủ đề của bức tranh là phong cảnh, thực ra đây là hình vẽ nghiên cứu một mặt nước rộng với nhiều ánh phản chiếu lý thú. Họa sĩ bắt đầu vẽ các vật tạo ra hình ảnh phản chiếu: cây cối, và ông đã vẽ với một sắc nhạt, lác đác những nhát đậm bằng bàn chải khô. Sau đó, ông tách ra một mảng mờ dần từ sẫm đến sáng của dải trời. Về dải bóng trên tuyết, ông cho một nhát lớn duy nhất trên giấy thấm ướt. Với cây cối: màu vàng gamboge, màu đất sienna cháy và xanh Anvers, thêm một chút màu xanh da trời Pháp cho bầu trời và bóng trên tuyết.

b. Sang đến hình dạng không đều của nước dọc theo bờ, ông dùng sắc đậm nhất cho các ánh phản chiếu trên giấy ướt để tạo nên những vệt mờ. Màu của các ánh phản chiếu giống như màu của cây cối ở trên, nhưng với nhiều màu xanh và đất sienna cháy hơn. Đất, dưới các cây, được thực hiện bằng bàn chải khô với vàng gamboge, màu đất sienna cháy và đất tự nhiên cộng với xanh Anvers, cùng một vài mảng sáng vàng gamboge cho các hoa nở sớm. Đối với khoảng đất đầy sỏi, họa sĩ chọn màu đất sienna cháy, nâu alizarin và xanh da trời Pháp. Để tạo một thang tỷ lệ đối chứng và để làm sống động đống tuyết, ông vẽ một vài cội cây ở bên kia bờ nước.

c. Chú ý đến tiền cảnh, ông quan tâm tới các kết cấu và sắc độ. Các màu giống như màu của khoảng đất có sỏi ở giai đoạn trước - màu đất sienna cháy, nâu alizarin và xanh da trời Pháp - nhưng với những sắc độ khác nhau để làm rõ nét các hình dạng của mép nước. Ông cũng thêm vào một vài đám cỏ ở tiền cảnh để tạo hiệu quả về phối cảnh. Các nhát cọ ở tiền cảnh cách xa nhau và lác đác những đốm giả sỏi.

d. Với nét cọ nhẹ nhàng, họa sĩ làm sẫm các hình dạng của tiền cảnh để dễ đóng khung bờ nước. Mặt nước vốn nhợt nhạt được thể hiện với màu trắng của giấy. Ông đã thêm một màu sắc thật nhẹ ven bờ. Để gợi ý các ánh lấp lánh, ông để các bờ trắng và sáng quanh các hình dạng sẫm màu trong nước. Cuối cùng, ông làm nổi bật một vài cọng cỏ và thân cây ở tiền cảnh.

Ảnh chụp: Bức ảnh chụp này cho họa sĩ một khái niệm sơ bộ về màu sắc và có thể dùng để tham khảo về đường viền của bờ hồ. Tuy nhiên, như đối với đa số các bức ảnh chụp, bố cục được thay đổi.

Ký họa với bút chì: Ở đây, họa sĩ đã xác định các sắc độ, vẽ bóng của cây cùng với ánh phản chiếu của chúng sẫm hơn. Ông đã xác định vị trí của các cây con trên tuyết, nhưng không cho thấy ánh lấp lánh, hấp dẫn của mặt nước như đóng khung bởi bờ của tiền cảnh - rất cần thiết cho bản vẽ cuối cùng.

Bức tranh hoàn tất: Ở đây chủ đề thực sự là hình dáng của cái vịnh nhỏ với đường nét hấp dẫn của bờ. Điều làm người ta chú ý là tác động qua lại của các hình dạng không đều, rất rõ nét của bờ nước và các ánh phản chiếu mờ ảo.


6. Suối:

a. Ở hình vẽ nghiên cứu này, họa sĩ tập trung vào các hình dạng của nước đang chuyển động, phần chi tiết nhất ở ngay tiền cảnh, bên phải. Ông vẽ thân cây chìm trong làn nước sâu, ở giữa cảnh. Sau khi đã thấm ướt hai phần ba phần trên với nước trong, ông đã trải rộng bằng màu xanh da trời, xanh Anvers, đất sienna cháy và vàng gamboge với những pha trộn đa dạng và để cho các màu tan vào nhau. Khi màu bắt đầu khô, ông thể hiện làn nước trong vắt bằng vài nhát cọ nơi các cành nhợt nhạt nổi lên trên nền sẫm ở bên phải. Ông cũng vẽ một vài bóng lên giấy khô để có một sự tương phản mạnh ở chỗ mà bọt nước sẽ hiện ra.

b. Họa sĩ vẽ thêm một vài tảng đá phía bên trái, nơi ông muốn có các sắc sậm hơn. Bên trên các màu sắc trung tính ở chân các tảng đá, ông cho một vài nhát cọ với một hỗn hợp màu xanh da trời, vàng gamboge và đất sienna cháy, với một vài dải giống như rong, đồng thời gia tăng các bóng ở xa với những hỗn hợp dùng ở giai đoạn 1. Để vẽ những cây ở bên phải, ông bắt đầu bằng mảng bóng giữa các cành. (Để vẽ cây kiểu này, màu của nền phải khá sáng để các cành trở nên nhợt nhạt khi có bóng vây quanh). Nơi có lớp nước mỏng trên lòng con suối ở tiền cảnh, họa sĩ vẽ những nhát nhanh màu nóng: đất sienna cháy cộng thêm với vàng gamboge và xanh Anvers. Lưu ý cách ông đã làm để lưu giữ hình dạng của cây ở phía phía dưới bên phải.

c. Ở đây, họa sĩ chỉ quan tâm đến tâm điểm. Ông lấy ra miếng băng dán đã dùng để che giấu cây đổ và cho nó có khối bằng các bóng và các màu trung gian. Ông vẽ các gợn sóng lạnh của nước ở cảnh xa và các gợn sóng bằng màu nóng cho nước ở tiền cảnh. Với các bóng, ông đã tạo nhiều cành ở bên trên phía phải và thêm vào các cành khác (sáng và đậm) ở bên trên phía trái, xung quanh mảng nóng được đổi thành tán lá. Ở các giai đoạn 2 và 3, ông đã từ từ rút bớt các phần sáng của nước và xác định các chi tiết tạo bọt sóng.

d. Phần tìm tòi của tiền cảnh đã được dành cho công đoạn cuối như thường lệ. Các cành của cây ở thật gần và tán lá được tạo nên với nhiều mảng màu nóng - nhất là màu đất sienna cháy, nâu đen, vàng gamboge và một chút xanh da trời. Họa sĩ rải các màu này đến tận cây to ở trên cao bên phải, như những đám lá rồi chuyển sang phía bên kia của bức tranh, trên cao bên trái, nơi ông đã thêm các màu này cho tán lá sáng hơn. Mặt khác, ông đã “hâm nóng” và làm sậm màu cũng ở góc này với một đơn sắc, màu đất sienna cháy, bằng cách thêm vào các cành cây thẫm. Sau cùng, với một bàn chải lông cứng thẫm ướt, ông đã khai thông một vài phần sáng trên các gợn sóng ở tiền cảnh và trung cảnh.
7. Mặt nước khi thủy triều xuống:

a. Trong hình vẽ nghiên cứu các hình dạng mơ hồ của một vũng nước nhỏ để lại bởi thủy triều, họa sĩ bắt đầu thấm ướt toàn bộ tờ giấy từ một phần ở phía trái, nơi ông muốn duy trì các đường viền rõ rệt. Ông vẽ với một hỗn hợp màu đất sienna cháy và đất tự nhiên, nâu đen và xanh da trời. Những màu này có xu hướng nổi lên tạo nên kết cấu của cát. Giấy để nguyên cho các hình ảnh phản chiếu. Dãy trên của phong cảnh dùng màu đất sienna tự nhiên và xanh da trời - hỗn hợp mà họa sĩ đã cạo bằng dao để tạo ra dải rừng trên bãi.

b. Với một bàn chải bẹt (bằng lông chồn đỏ), 25mm thấm đầy màu đất sienna cháy và xanh da trời Pháp, họa sĩ vẽ các ánh phản chiếu và các bờ đậm màu của vũng nước. Trong khu vực đơn sắc còn ướt, ông làm rõ các sắc độ với một bàn chải lông lợn đầy màu nâu đen, xanh Anvers và đất sienna cháy. Ở giữa vùng phản chiếu mờ tối, ông thêm các nhát thẳng đứng cùng với các nhát ngang chạy qua (cho những gợn sóng). Rồi ông làm nổi bật sự tương phản và các chi tiết của rừng trên bãi ở xa bằng cọ nhỏ.

d. Với những nét lượn lớn, ông vẽ các gợn cát ở tiền cảnh để các vệt màu hòa vào nhau một chút. Ông làm sẫm màu bờ nước và thêm các bóng nhẹ vào cát phía sau, làm mờ các bờ với cọ ướt. Vẽ mặt nước, ông thấm nước trong và tạo các gợn màu của bầu trời phản chiếu, rồi thêm một vài nét xanh. Tất cả đã khô, ông cạo một vài phần sáng trên cát và làm sáng các ánh phản chiếu của mây trên mặt nước.

Để vẽ các kết cấu tương phản, ông dùng những nhát nhỏ đậm màu, vòng quanh vũng nước để làm nổi bật các sắc độ tương phản. Ở bờ trước, nơi cát ướt sậm màu, ông thêm một màu đơn sắc nhẹ: xanh Anvers và nâu đen, rồi làm nổi bật những sắc lạnh cho các ánh phản chiếu của bầu trời. Sau cùng, họa sĩ thêm một vài mảng đậm và tinh tế ở góc dưới bên trái và ở dải bóng dưới cỏ ở trên cùng bức tranh.

Ảo ảnh khi thủy triều xuống, màu nước (38 x 56 cm), Zoltan Szabo
Chi tiết. Sự đa dạng của các nhát cọ được thấy trong bức tranh này, gần như lớn bằng thật. Lưu ý là ở cận cảnh, các nét vẽ lượn theo đường cong cho bờ cát, nơi xen lẫn các phần sáng và tối hòa nhẹ vào nhau, và các sắc nhạt hơn. Ở mặt nước, một màu đơn sắc trung bình rạch những nhát đậm hơn: đường thẳng đứng dài để thể hiện bóng cây cắt những đường ngang ngắn - hình ảnh mặt nước gợn sóng khi gió thổi.
8. Nước chảy:

a. Một trong các hình ảnh khó vẽ nhất là hình ảnh của nước chảy xuống các mỏm đá. Ở trường hợp này, đầu tiên họa sĩ đã làm ướt giấy, rồi với một cọ bẹt và mềm 50mm, vạch những đường nét lớn của bố cục. Bảng màu gồm: cam cadimi, nâu alizarin vàng gamboge, nâu đen, xanh da trời, xanh Winsor. Khởi đầu, màu nâu đen vắng mặt; cần chú ý đến sự thống nhất màu xanh da trời chi phối các màu khác. Các mảng đầu tiên hòa một ít vào giấy ướt. Khi giấy gần khô, họa sĩ dùng màu nhiều hơn và ít nước hơn để có các nét chính xác. Ta có thể thấy những nét khá rõ ở các góc trên.

b. Ở bên trái, họa sĩ phối hợp các không gian đầy và trống: những không gian đậm nhất làm nổi bật những không gian nhạt nhất. Ông giữ các phần sẫm trong suốt. Nhiều hình dạng tan biến trong tranh ướt. Ông lấp đầy các phần sáng với cùng màu nhẹ và mờ ở giai đoạn 1, mặc dù đã thêm các mảng màu nóng và lạnh trên thân cây và các mỏm đá. Các phần sẫm được vẽ với xanh Winsor và một chút vàng gamboge. (Thực tế thì giống như màu đất sienna cháy là vàng gamboge và nâu alizarin). Ở trên cao bên phải, ông cho một vài nhát cọ màu lạnh và đậm để củng cố các hình dạng trống của cây cối.

c. Họa sỹ bắt đầu từ các cây ở xa đến các ánh phản chiếu trong nước. Các gợn sóng phản chiếu bóng của bờ, màu xanh Winsor, xanh da trời và vàng gamboge. Để làm chúng xác định hơn, ông bố trí các bóng quanh những mỏm đá. Sau đó, ông làm sẫm màu nước và làm nổi bật kết cấu và các chi tiết vây quanh đám bọt, khiến các hình dạng trở nên rõ rệt hơn. Ông giữ màu sáng trên phần khô của các mỏm đá, nhưng làm sẫm màu các phần chìm để chúng có vẻ ướt. Đối với kết cấu của đá, ông phối hợp một cách thoải mái bàn chải khô với hình dạng các tia nước bắn lên.

d. Đối với những phần chìm và sẫm của các mỏm đá, họa sĩ trộn nâu đen với xanh Winsor. Giờ đây, ông rút một vài phần sáng trong nước bằng cách làm ướt nhẹ và bằng cách trét. Rồi đến một vài cây khác ở hậu cảnh, nơi ông tách riêng một mỏm đá nhợt nhạt, đơn độc bằng cách vây quanh nó một đơn sắc đậm hơn. Để tạo tương phản, ông tô một màu đậm hơn nữa quanh con sóng gãy, kết thúc với các khe trong những mỏm đá bằng bàn chải khô với các tia nước bắn lên đây đó, và làm nổi bật hình khối bằng các bóng xác định hơn.

Vũ điệu màu xanh, màu nước (38 x 56 cm), Zoltan, Szabo

Ảnh chụp. Bức ảnh này có các chi tiết hữu ích, đặc biệt chi tiết nước chảy.

Ký họa với bút chì. Ký họa phục vụ cho việc tạo ra các đường nét lớn của bố cục và cho việc phân bố sắc độ các hình dạng, các chỗ bóng và chỗ sáng chính yếu được thấy rõ.

Bức tranh hoàn tất. Để vùng nước màu trắng hiển hiện, họa sĩ đã bao vây nó bởi đủ loại bóng đối với nước đang chuyển động là các mảng màu nhẹ và trong suốt và các bờ không rõ. Đối với chỗ nước chảy nhanh là các nhát cọ nhanh. Đối với các giọt nước nhỏ lơ lửng là các nét cọ tinh tế. Màu của nước ít thay đổi, sự thể hiện tài tình tùy thuộc chủ yếu vào tác dụng của cọ và các sắc độ. Nước được trình bày với một chút màu trắng của giấy và nhất là với nhiều sắc thái tinh tế.
- Nguồn: Theo sách “Bí quyết vẽ phong cảnh” của David Lewis do Huỳnh Phạm Phương Trang dịch -
*Lưu ý: Toàn bộ nội dung bài viết được chúng tôi sưu tầm lại từ nhiều nguồn, có thể có sai sót một chút về nội dung và tác giả. Chúng tôi sưu tầm với mục đích dành cho các bạn sinh viên và người yêu nghệ thuật tìm hiểu và nghiên cứu. Chúng tôi không đăng bài để bán sách, bán nội dung hay bất cứ điều gì liên quan đến bài viết. Có những bài chúng tôi không tìm thấy tác giả, nếu tác giả nhìn thấy vui lòng liên hệ với chúng tôi để chỉnh sửa hoặc xóa bài viết (trường hợp tác giả không đồng ý). Người đọc nếu biết tên tác giả cũng xin vui lòng cung cấp cho chúng tôi để chúng tôi bổ sung lại. Trân trọng!
>>> Vẽ tranh Phong cảnh có nước (Phần 1)
>>> Tranh Phong cảnh trong hội hoạ
>>>> Vẽ tranh Phong cảnh theo bố cục trừu tượng











