Hình tượng con ngựa trong
tranh dân gian và tạo hình đồ mã Việt Nam (Phần 2)
3. Hình tượng ngựa trong tranh hóa mã của người Việt:
Trong các dòng tranh dân gian Việt Nam thì tranh dân gian làng Sình được xem là dòng tranh mã, tức tranh vẽ phục vụ cho các nghi lễ cúng của dân gian. Trong dòng tranh dân gian này, các thể loại tranh như tranh Trang Ông, Trang Bà, Cậu bé cầm bút, Cô bé cầm hoa, các tranh trâu bò, lợn, gà, nhà cửa, xe cộ, tiền vàng… còn gọi là tranh đồ thế. Đồ thế, đồ mã được xem như là phương tiện siêu linh dẫn dắt vong hồn người chết rời khỏi cõi trần sang thế giới bên kia. Người ta cũng có thể làm đồ mã bằng giấy sau cúng để hóa, nhưng cách thức dùng tranh mã lại vừa có tính giản tiện vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Trong thế giới hữu hình, những vật phẩm được vẽ ra chỉ là sự khắc họa ý niệm về tinh thần của vật thể, khi đốt hóa trong một ý niệm tinh thần chính là sự chuyển trạng thái để những vong linh thuộc thế giới vô hình - thế giới bên kia nhận được. Vậy nên cho dù đồ mã bằng giấy ngày nay được làm rất cầu kỳ nhưng người ta vẫn sử dụng tranh mã.
Trong số những bức tranh mã của tranh dân gian làng Sình ở Huế, con ngựa có cánh là một trong những bức tranh khá đẹp. Đây là bức tranh khắc họa hình ảnh con ngựa vừa được thắng yên cương lại vừa có cánh được mô tả hoàn toàn theo dáng nhìn nghiêng. Trên thực tế, chiếc cánh này của con ngựa có hình hài như chiếc cánh của con Phượng, mà một phần đuôi của con phượng vẫn được tạo hình ngay phía sau của chiếc yên như thế hai con vật này đã được hóa hình vào cùng nhau, để tạo nên một hình tượng mới. Hình tượng ngựa bay này ta từng bắt gặp trong nghệ thuật Phật giáo. Con ngựa như một ý niệm về tinh thần, có thể phi - bay trong hai cõi người và cõi thần linh. Do đó, trong lễ cúng gia tiên, bức tranh này thường được cúng đốt với ý niệm con ngựa này sẽ chở linh thần của gia chủ đi gặp tổ tiên, nên khi cúng tế, chúng cũng được là tranh được đốt trước hết.

Thiên Mã – Ngựa Trời, tranh dân gian Làng Sình, Huế
Về mặt tạo hình, con ngựa này được mô tả trong tư thế vừa đi vừa bay. Hai chân trước như co lên nhấc bổng trên không trung trong khi hai chân sau vẫn như đang bước trên mặt đất. Đầu ngựa được khắc vẽ khá to, miệng như đang cười. Mình ngựa thắng yên cương và tấm phủ thân có trang trí cầu kỳ có tính ám thị, cổ đeo lục lạc.
Về cơ bản, đối với tranh mã của làng Sình, người ta thường khắc ván không chi tiết, tất cả những hình vẽ ra khắc lên chỉ có tính ám thị. Kể cả lối tô màu cũng vậy, khi tô, người ta có thể tô gọn theo hình nhưng cũng có thể tô chườm ra ngoài. Theo quan niệm của người dân là tranh này không có tính nghệ thuật mà chỉ có tính ám thị nên không cần thiết phải làm kỹ lưỡng.

Ngựa trong bộ 12 con giáp của Làng Sình, Huế
Ngoài bức Thiên mã khắc họa hình tượng ngựa bay thì trong Lễ Thành, thể hiện thành tâm của gia chủ đối với một ước nguyện khi cúng lễ, cũng có ngựa. Tranh ngựa này được in cùng với ván in voi và nhà gồm bạch tượng, bạch mã và nhà. Đây chỉ là một nghi thức tiến voi ngựa cho quan thần linh để làm Lễ Thành cho gia chủ. Khác với hình tượng ngựa bay kể trên thì ngựa trong bộ tranh này bốn chân đứng, đóng yên cương sẵn sàng, trên yên cương khắc hổ phù. Chúng được khắc in thành cặp đôi chứ không đi lẻ.

Tranh Bạch tượng – Bạch Mã và Nhà
Khác với tranh mã của làng Sình, tranh mã trong các lễ cúng phát tấu ở miền Bắc, hình tượng con ngựa xuất hiện rất đa dạng. Lễ phát tấu thường là nghi lễ mở đầu quan trọng trong hầu hết các nghi lễ thờ cúng dân gian nhằm trình báo với các vị thần linh và chư thần các giới âm linh về việc sắp tiến vào tiến hành đàn lễ. Thông qua nghi thức này, thầy cúng mới chính thức mở đàn thông thường âm dương, cầu các thần linh chứng giám và cho phép các nghi lễ tiếp theo được diễn ra thuận lợi. Trong lễ phát tấu, người ta sử dụng bộ tranh thập vật để cúng hóa cho các vị thần linh. Thập vật có nghĩa là 10 đồ vật có thể kể ra như:
- Xe cộ có: Long sa, Phượng liễn, Lân sư, Long mã (vật linh)
- Con vật cưỡi vật thồ: Bạch tượng, Tòng mã, Địa mã, Vân mã, Phi mã, Đà mã (phương tiện)
- Tiền bạc: Ngân khố, Kim khố
- Con người: Hình nhân, Tòng giá.
Nhìn vào tiêu đề của những bức tranh này, ta có thể thấy rằng các vật dụng cúng tế cho nghi lễ này chủ yếu là các phương tiện tiền bạc để dùng đi đường như: xe rồng, phượng, voi, ngựa, tiền vàng và hình nhân. Những hình nhân này có thể mang theo bảo phướn, bảo phan một cách tấu trình lên cõi thiên giới.
Ở mỗi bộ tranh thì số lượng tranh đủ 10 nhưng cũng không phải bộ nào cũng đủ hết các tranh kể trên. Có bộ tranh chỉ có rồng phượng, lân, mã, nhưng có những bộ chỉ có lân sư, long mã... Riêng với hình tượng con ngựa thì một bộ tranh thập vật có ít nhất là 2 con, có bộ lên tới 4 con ở các hình thức khác nhau.
Hình tượng ngựa trong các bộ tranh này gồm: Tòng giá, Địa mã, Phi mã, Vân mã. Tòng giá là người dắt ngựa, Địa mã là con ngựa đang gặm cỏ dưới mặt đất, Phi mã, Vân mã là con ngựa đang bay trên mây, Đà mã là con ngựa thồ. Vật chúng thường thồ ở đây thường là các hòm kinh sách. Đa số những con ngựa này đều được thắng yên cương rất đẹp như sẵn sàng chờ lệnh.
Trong lễ phát tấu, trước khi hóa mã thì ta cũng làm lễ khai quang cho những bức tranh này để khi hóa chúng trở thành những con vật cưỡi đi mây về gió của thần linh, thổ thần để phù hộ cho gia chủ thực hành các nghi lễ tiếp theo.
Bay bổng nhất trong số những tranh ngựa kể trên có lẽ là các tranh vân mã. Ngựa được thắng yên cương nhưng không có người cưỡi. Chúng phi như bay trên những đám mây vần vũ. Những đôi chân ngựa xoải rộng, trên yên ngựa có thể có một đôi cánh nhỏ xíu. Hầu như không giống cánh phượng như ở tranh làng Sình, mà giống với các mô típ ngựa bay trên gạch thời Mạc. Trên lưng của chúng mọc ra những dải mây lụa quyện vào không gian nền trời như thể chúng được chắp thêm một đôi cánh. Do đó, khi xem những bức tranh Phi mã, Vân mã, ta như thể nghe thấy cả tiếng gió hòa trong tiếng nhạc của những chiếc lục lạc đeo trên cổ ngựa.

Địa mã – chùa Bút Tháp
Có thể nói, trong nghệ thuật dân gian, đặc biệt là nghệ thuật tranh mã, tạo hình của những con ngựa được các nghệ nhân dân gian đặc tả chi tiết dưới nhiều góc độ khác nhau. Những con ngựa dường như đã đạt đến được tính khái quát cao nhất nhưng vẫn thể hiện ra được đầy đủ nhất những đặc điểm của chúng. Bằng hệ thống nét mạch lạc, việc trang trí trên thân mình con ngựa với các phụ kiện như yên, thảm lưng, gù tua… đã làm cho những con ngựa sống động và đẹp đẽ. Mặc dầu có một số con được cách điệu khiến cho chiếc mình bị dài quá khổ hoặc những đôi chân sải quá đà, cường điệu. Tuy nhiên, tinh thần chung của những bức tranh khắc gỗ này đã cho thấy thẩm mỹ tinh tế của người Việt.

Phi mã – chùa Keo, Vũ Thư, Hưng Yên

Vân mã – chùa Yên Ninh, Hải Phòng

Vân mã – chùa Bút Tháp, Bắc Ninh

Vân mã – chùa Phúc Chỉnh, Hoa Lư, Ninh Bình

Tòng mã – chùa Bổ Đà

Địa mã – chùa Phúc Chỉnh, Hoa Lư, Ninh Bình

Địa mã – ngựa đất – chùa Bổ Đà

Địa mã – chùa Dui, xã Liên Vị, Hưng Yên
4. Ngựa trong tranh cắt giấy của người Việt:
Bên cạnh các dòng tranh dân gian kể trên, thì thể loại tranh cắt giấy là thể loại tranh được phái sinh từ dòng tranh Đông Hồ và kỹ thuật làm đồ mã. Tranh cắt giấy thuộc thể loại tranh chúc tụng và thường làm về mười hai con giáp hoặc chủ đề về xuân - hạ - thu - đông tạo nên những bức tranh độc đáo. Tuy nhiên, tranh trổ cắt giấy của người Việt hiện nay không được phát triển. Trước có một vài nghệ nhân ở làng tranh Đông Hồ, nay tranh cắt giấy mỗi nghệ nhân Nguyễn Đăng Giáp là còn duy trì. Việc dần thất truyền của dòng tranh này do thị trường cho thể loại này còn kén và người thực hiện các kỹ thuật thủ công hoàn toàn lại rất lâu công. Ở các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng hiện đại thì việc cắt giấy này được chuyển sang kỹ thuật sản xuất bằng máy móc.

Ngựa cắt giấy, nghệ nhân Nguyễn Đăng Giáp
Trong bộ 12 con giáp của dòng tranh cắt khổ giấy dân gian, thì hình tượng con ngựa được khắc họa khá đẹp mắt. Kỹ thuật trổ giấy là kỹ thuật trổ bỏ đi những phần thừa để giữ lại phần cốt, sau đó dán lên giấy trắng hoặc nền giấy màu để làm nổi hình ảnh của con vật.
Ngựa trong tranh cắt trổ giấy có một số mẫu khác nhau, đa số là những con ngựa được lấy mẫu từ tranh dân gian hoặc tranh mã và được cắt trổ. Tuy nhiên, chúng được xuất hiện khá muộn, khoảng đầu thế kỷ XX và không thuộc dòng tranh thờ cúng nên cũng không thật phổ biến.
Tranh cắt trổ giấy có hai lối trổ phổ biến. Tranh cắt trổ trên giấy một màu và cắt trổ trên giấy nhiều màu, nhiều lớp. Người Đông Hồ còn sáng tạo nên loại tranh trổ giấy được quét nhiều màu. Họ dùng màu quét lên để tạo nền giấy, xong sử dụng giấy đó để trổ tranh. Những tranh trổ giấy như vậy tạo nên độ chuyển màu giữa các chi tiết của nét trổ và khiến cho bức tranh gần với lối hội họa. Tranh con ngựa trổ giấy trên là một điển hình. Phần chuyển sắc chuyển màu cộng với các nét trổ thủng ở yên cương con ngựa khiến cho bức tranh có những khoảng rỗng đặc thú vị.
5. Ngựa trong tạo hình đồ mã Việt Nam:
Từ việc in tranh tạo hình mã đến việc tạo hình đồ mã là những vật phẩm thật chỉ là một bước. Đồ mã là sự tái hiện tất cả các đồ cúng tế theo các nghi thức khác nhau bằng giấy. Sau đó đồ mã này được đem đốt hóa theo quan niệm là gửi sang thế giới bên kia cũng tương tự như tranh mã được thể hiện bằng một lối tượng trưng khác. Đó là những đồ vật có hình dáng thu nhỏ dạng mô hình mô phỏng đồ vật thật.
Trong hệ thống đồ mã truyền thống của người Việt, con ngựa giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là trong các nghi lễ hiến cúng thần linh hay các tín ngưỡng trong Đạo Mẫu thờ tam phủ, tứ phủ. Ngựa mã không chỉ là phương tiện mang tính biểu trưng mà còn là linh vật chuyển tải lễ vật, ước nguyện và lòng thành của con người đến thế giới siêu nhiên. Vai trò ấy được thể hiện rõ nét thông qua nghệ thuật tạo hình công phu và giàu tính biểu tượng.
Về tạo hình phần lớn các ngựa mã hiện nay vẫn được làm theo lối cổ: ngựa đứng thẳng, tai dựng, bờm dựng, dáng chầu trang nghiêm. Ngựa được dựng bằng khung cốt tre đan, sau đó phất giấy. Tùy theo các cỡ ngựa khác nhau lớn, nhỡ hay nhỏ mà được tạo hình trang trí cầu kỳ và che đi những khiếm khuyết khi tạo hình.
Nếu nhìn vào phần cốt mã, có thể thấy hai chân trước của ngựa thường được tạo riêng, gần như thẳng băng, gắn với thân khá lớn, gây cảm giác cứng và thiếu tự nhiên. Để khắc phục nhược điểm này, người làm mã đã khéo léo sử dụng phần yếm phía trước, làm lượn cong ra ngoài. Yếm ngựa vừa gợi rõ phần ức, vừa làm mềm các đường thẳng của cốt, đồng thời trở thành điểm nhấn quan trọng khi nhìn trực diện. Trên lưng là chiếc yên cương được làm hình con phượng ít nhiều tạo độ cong cho thân ngựa, khắc phục phần tạo hình của lưng ngựa theo cốt mã là thẳng băng xuống phần đuôi. Dưới chiếc yên phượng này là một tấm phủ lưng che phần lớn khoảng rỗng giữa hai đôi chân. Bờm đuôi, chân của ngựa cũng được quan tâm đặc biệt. Trước đây, phần trang trí mép viền của yếm, tấm phủ lưng, đuôi ngựa, bờm đều được cắt giấy dạng tua để dán. Nhưng với công nghệ in ấn hiện nay thì phần bờm và các đao lửa ở chân của những con ngựa này đều được in và cắt sẵn.
Trang trí cầu kỳ nhất trong tạo hình ngựa mã chính là các trang trí trên yếm, ngực và tấm phủ lưng với dày đặc các dạng hoa văn. Đa số sử dụng kỹ thuật trổ giấy tráng kim vàng, bạc để cắt tạo hình. Kỹ thuật này hoàn toàn là kỹ thuật dùng cổ mà cho đến nay, các làng nghề vẫn lưu giữ. Người ta xếp giấy tráng kim vàng, bạc thành từng xếp, dùng cây đinh đục lỗ theo hình hoa văn đã định sẵn, tạo thành những lỗ nhỏ trên bề mặt giấy. Phần thừa, cần để lộ ra nền giấy màu ở phía dưới thì người ta dùng dao mài bén để trổ đi. Sau đó bồi lên phần giấy phủ yên đã chọn. Phần giấy tráng kim này có thể xem là phần trang trí đặc sắc nhất của con ngựa. Nó góp phần tạo hình các chi tiết khác như tiết diện hình tròn hay vuông trang trí tấm thảm phủ. Chi tiết hổ phù được trang trí dưới yên - ý niệm về ngựa của thần linh.
Phần đầu ngựa là nơi thể hiện rõ nhất tài năng tạo hình và cảm quan thẩm mỹ của người làm mã. Đầu ngựa thường được làm căng, tròn, đầy khối; mắt mở to, lỗ mũi nở, hàm răng nhe ra, tạo cảm giác mạnh mẽ, sung mãn. Cổ ngựa thon dài, liền mạch từ đầu xuống thân, biểu hiện vẻ đẹp của “ngựa đẹp mã”. Trên đỉnh đầu thường trang trí hoa gù tua dán chính giữa trán. Bờm và tai ngựa luôn dựng đứng, nhấn mạnh sự cứng cỏi, oai phong, phù hợp với hình ảnh ngựa linh thiêng trong quan niệm dân gian.
Yên ngựa là một chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng rõ rệt. Thay vì trang trí đơn giản, yên ngựa mã thường được cách điệu hình chim phượng, nhằm nhấn mạnh đây là ngựa dâng của các bậc thần linh, có địa vị cao, khác hẳn với ngựa thường hay ngựa dùng trong chiến trận. Hai bên yên, ở vị trí hàm thiếc, thường được trang trí hoa văn và tua rua buông thẳng, tăng thêm vẻ trang trọng, uy nghi.


Dàn ngựa mã chầu vào phủ Vân Cát, xã Vụ Bản, Ninh Bình
Màu sắc trong tạo hình ngựa mã không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn gắn liền với hệ thống biểu tượng vũ trụ quan của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tùy theo các lễ cúng khác nhau mà người ta sử dụng các lễ vật và ông ngựa khác nhau. Điển hình như lễ Tiến mã đền phủ người ta thường sử dụng một voi, một ngựa, một thuyền, một dàn mũ khoảng 20 chiếc và một động Sơn Trang. Ngoài ra, trước lễ tiến mã thường có lễ phát tấu. Mã trong lễ phát tấu có thể sử dụng tranh ngựa mã đã nhắc đến ở phần trên,nhưng cũng có thể dùng ngựa là đồ vàng mã. Số lượng ngựa cho lễ Phát tấu là năm ngựa loại nhỏ cùng năm hình nhân. Ngựa cúng gia tiên tại gia thì người ta chỉ dùng một ngựa đỏ và một mũ hài đỏ.
Về ngựa trong lễ phát tấu thường được dùng với năm màu khác nhau tượng trưng cho những miền khác nhau trong quan niệm vũ trụ của người Việt: ngựa đỏ là Thiên mã, ngựa vàng là Địa mã, ngựa trắng là Thoải (miền sông nước), ngựa xanh là Thượng ngàn (miền rừng núi). Mỗi ngựa kèm theo một hình nhân cùng màu. Ngoài ra, trong bộ phát tấu này còn có thêm một con ngựa đỏ khác đi cùng với hình nhân màu đỏ là hình nhân bản mệnh của gia chủ.

Ngựa mã của Đức Thánh Trần chầu vào phủ Vân Cát, xã Vụ Bản, Ninh Bình

Khai quang điểm nhãn ngựa trước khi hóa mã
Ngoài ra, những lễ lớn Tứ Phủ người ta làm một dàn mã cúng cho các Quan, Hoàng được quy định về màu sắc.
- Đức Thánh Trần: ngựa đỏ có người hầu.
- Các quan lớn gồm: Ngựa màu đỏ quan Đệ Nhất, màu xanh quan Đệ Nhị, màu trắng quan Đệ Tam, màu vàng quan Đệ Tứ, màu tím (đen) quan Ngũ Tuần Tranh. Đây cũng là màu áo của các quan lớn trong Đạo Mẫu tứ phủ.
- Các ông Hoàng: Ngựa màu trắng là của ông Hoàng Bơ, màu vàng của ông Hoàng Mười và màu tím là của ông Hoàng Bảy.
- Ngựa của cậu: Màu xanh lá cây.
Điều thú vị là đối với các cấp bậc thần linh khác nhau trong đồ lễ cúng tứ phủ, người ta làm ngựa theo các kích thước khác nhau. Quan niệm này có lẽ cũng giống như cách thức tạo hình trong tranh thờ dân gian. Những thần linh quan trọng làm ngựa cỡ lớn, ở các vị trí thấp hơn thì ngựa cỡ nhỡ và nhỏ. Trong dàn mã kể trên thì Đức Thánh Trần và các quan là ngựa cỡ lớn, các ông Hoàng là ngựa cỡ nhỡ và ngựa của cậu là cỡ nhỏ. Đi cùng với các ngựa các màu này là các hình nhân đại diện cho các quan, Hoàng, riêng Đức Thánh Trần không có hình nhân. Ngoài ra, mỗi con ngựa đều được kèm theo một bộ tráp mũ áo và một quan giám mã đi cùng để dắt ngựa.
Màu sắc của các bộ mã này ngoài việc tượng trưng cho các vị thần linh còn mang yếu tố tượng trưng cho ngũ phương: Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương. Quy định về màu sắc này cũng giống như trong tranh dân gian: xanh - đông, trắng - tây, đỏ - nam, đen (tím) - bắc và vàng - trung ương. Mỗi màu sắc tương ứng với một phương vị linh thiêng, phản ánh quan niệm về trật tự vũ trụ và sự vận hành hài hòa của các lực lượng siêu nhiên.
Về tạo hình đồ mã, khi làm mã, các nghệ nhân thường ý thức rõ ràng trong việc phối hợp các cặp màu bổ túc như đỏ - xanh, vàng - tím để làm nổi bật các mảng trang trí và hoa văn trên thân, yếm và yên ngựa. Bên cạnh các màu nền chính, giấy màu trang kim như vàng, đỏ, trắng được sử dụng phổ biến nhằm tăng khả năng bắt sáng và tạo hiệu ứng linh ứng.
Trong không gian thờ tự, đặc biệt là những nơi thiếu ánh sáng, các mảng trang kim có khả năng hấp thụ và phản quang ánh sáng từ đèn nến và ánh sáng tự nhiên khiến sắc màu của ngựa mã trở nên lung linh, biến hóa theo góc nhìn. Khi bày biện đầy đủ bộ ngựa Ngũ phương, tổng thể đồ mã hiện lên như một chỉnh thể hài hòa, vừa rực rỡ vừa trang nghiêm, góp phần kiến tạo không gian thiêng cho nghi lễ hiến cúng.
Mặc dù màu sắc và họa tiết trang trí trên thân ngựa hay yếm ngựa không bị ràng buộc bởi những quy chuẩn cứng nhắc, song tất cả đều hướng đến mục đích chung là làm đẹp, làm sang và tôn vinh ông ngựa như một lễ vật thiêng. Nghệ thuật tạo hình đồ mã không đặt nặng tính hiện thực mà chú trọng sự “thuận mắt” và thần thái. Dưới bàn tay khéo léo của người thợ dân gian, con ngựa mã vì thế không chỉ giống ngựa mà còn “có hồn”, thậm chí gợi cảm giác linh thiêng và mạnh mẽ hơn cả ngựa thật. Qua đó, hình tượng con ngựa trong đồ mã trở thành sự kết tinh của kỹ thuật tạo hình, tư duy thẩm mỹ và thế giới quan tâm linh sâu sắc của người Việt.

Nghi thức hóa mã, để ngựa sang thế giới bên kia, phục vụ các quan Hoàng
Có thể thấy rằng trong nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam, hình tượng con ngựa đã mang một giá trị biểu trưng rất lớn, từ những góc nhìn khác nhau của nghệ thuật tạo hình, hình tượng con ngựa trong mỹ thuật cổ của người Việt đã thấm đẫm những giá trị nhân sinh, đã hội tụ ở đó những giá trị tinh thần, những sắc thái và quan niệm đa diện của những tư tưởng tôn giáo đặc sắc. Chúng góp phần vào hệ biểu tượng của mỹ thuật Việt, một hình tượng đậm đà bản sắc mà cho đến ngày nay, biểu tượng ấy vẫn không ngừng khai mở nên những giá trị cho đời sống tinh thần của xã hội đương đại.
- Nguồn: Theo sách “Tạo hình ngựa trong mỹ thuật Việt”
của PGS.TS. Trang Thanh Hiền (chủ biên); PGS. TS. Quách Thị Ngọc An – KTS. Hoàng Anh Đức -
*Lưu ý: Toàn bộ nội dung bài viết được chúng tôi sưu tầm lại từ nhiều nguồn, có thể có sai sót một chút về nội dung và tác giả. Chúng tôi sưu tầm với mục đích dành cho các bạn sinh viên và người yêu nghệ thuật tìm hiểu và nghiên cứu. Chúng tôi không đăng bài để bán sách, bán nội dung hay bất cứ điều gì liên quan đến bài viết. Có những bài chúng tôi không tìm thấy tác giả, nếu tác giả nhìn thấy vui lòng liên hệ với chúng tôi để chỉnh sửa hoặc xóa bài viết (trường hợp tác giả không đồng ý). Người đọc nếu biết tên tác giả cũng xin vui lòng cung cấp cho chúng tôi để chúng tôi bổ sung lại. Trân trọng!
>>> Hình tượng con ngựa trong tranh dân gian và tạo hình đồ mã Việt Nam (Phần 1)
>>> Nguyên tắc và tạo hình tượng Phật (Phần 1)











