Hình tượng con ngựa trong
tranh dân gian và tạo hình đồ mã Việt Nam (Phần 1)
1. Khái quát về các dòng tranh dân gian Việt Nam:
Bên cạnh nghệ thuật chạm khắc đình làng, nghệ thuật điêu khắc lăng mộ thì nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam cũng đã đóng góp một giá trị không nhỏ vào đời sống tinh thần của người Việt. Những tờ tranh mỏng tang, những nét vẽ, nét khắc tinh tế tưởng chừng như đơn giản, nhưng đã hội tụ vào đó là những tinh hoa của nghề, tinh hoa của đời sống tri thức và kinh nghiệm dân gian. Mỗi bức tranh cho dù là giản dị hay cầu kỳ, đều chứa đựng trong đó những giá trị tinh hoa. Không chỉ là sự khéo léo của kỹ thuật, sự tinh tế của thẩm mỹ, được truyền đời qua hàng thế kỷ mà ở đó còn mở ra cả một thế giới hình tượng và biểu tượng, thế giới của những thông điệp và ước vọng nhân sinh. Chính vì vậy nên, nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam đã được xem như là một bách khoa toàn thư về đời sống, trong đó hình tượng và biểu tượng con ngựa đã chiếm giữ một phần giá trị tinh thần không nhỏ.
Tranh dân gian xưa nổi tiếng với bốn dòng tranh: Đông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống ở Bắc Bộ và Làng Sình ở cận đô Kinh thành Huế xưa. Các dòng tranh dân dân này chủ yếu sử dụng kỹ thuật khắc gỗ để in tranh trên giấy gió hoặc giấy điệp. Kỹ thuật in cũng chia làm hai loại, một là tranh in hoàn toàn bằng mộc bản từ màu cho đến nét, hai là chỉ in bản nét xong sử dụng màu để tô tranh.
Nghề khắc mộc bản xưa là một trong những nghề truyền thống lâu đời của người Việt. Người Việt khắc ván, in kính, ấn tống sách để hoằng dương giáo lý Nho Phật, Đạo. Tuy nhiên, bên cạnh các nhu cầu tôn giáo thì nhu cầu “chơi”, thưởng ngoạn cuộc sống cũng như trao truyền những tri thức và thông điệp sống đã khiến các dòng tranh ra đời. Việc khắc in tranh dân gian có thể đã được sinh ra từ nghề san kinh, khắc sách. Khắc kinh là “khắc vuông”, khắc tranh là khắc tròn. Khắc tròn có nghĩa là khắc các nét vẽ to nhỏ, lớn bé, tinh thô theo dạng nét chân đê, thoải dần xuống hai bên, xuống mặt nền tạo thành một mạng lưới vững chắc, trong khi kỹ thuật “khắc vuông” là khắc chữ theo ô, hàng ngang lối dọc để tạo ra sự vuông vắn, sắc nét. Nếu tinh hoa của nghề khắc mộc, bản chứa đựng trong đó vô vàn các giá trị kỹ thuật in tranh, mỗi dòng tranh mỗi khác. Tranh Đông Hồ là tranh in màu theo lối sấp ván, chồng bản, chồng màu; Tranh Hàng Trống, làng Sình in nét tô màu; tranh Kim Hoàng vừa in chồng bản chồng màu, lại chồng cả nét ở một số tranh đặc biệt. Có thể nói mỗi kỹ thuật in vẽ này đều đem đến những giá trị, hiệu quả thẩm mỹ riêng biệt. Người sành chơi chỉ cần nhìn vào tranh đã có thể phân biệt được đặc trưng của các dòng tranh. Tất cả đã làm nên sự phong phú, đa dạng của nghệ thuật đồ họa dân gian Việt Nam.
Không chỉ khắc ván, in tranh, giấy, màu dùng để in tranh cũng là một tinh hoa nghề, góp mặt vào sự đặc sắc của những bức tranh dân gian Việt Nam. Từ thứ giấy phổ thông nhất cho đến những loại giấy cao cấp ta đều có thể tìm thấy trong các tác phẩm nghệ thuật dân gian này. Giấy dó dường như là một nền tảng căn bản dùng để in và vẽ tranh và cũng tùy theo mỗi dòng tranh mà người ta lại tạo nền tranh theo một lối khác nhau để tạo ra một đặc trưng riêng. Ở tranh dân gian Đông Hồ, việc quét điệp lên giấy dó đã tạo ra giấy điệp với những lóng ngóng/ dọc óng ánh rất đẹp mắt. Ở Kim Hoàng, người ta lại dùng phẩm son và hoa hiên để nhuộm tạo ra những chiếc nền tranh đỏ tươi, vàng cam rực rỡ. Riêng tranh Hàng Trống, các nghệ nhân để nền trắng để khi tô màu, nền mỗi tranh một khác. Nền tranh có thể trắng, có thể xanh tùy theo sự điều tiết của người vẽ. Đối với tranh làng Sình, các tranh in ra hầu như không dùng để treo mà dùng phục vụ cho những lễ cũng tế. Vậy nên họ cũng chỉ cần dùng loại giấy bản bình thường và tô màu ở một mức độ có tính ám thị. Điều này cho thấy nghệ thuật dân gian luôn rất linh linh.
Màu trong tranh dân gian Việt xưa thường sử dụng loại màu được chế tác từ tự nhiên. Để làm nên giấy điệp, người ta nghiền nhuyễn vỏ sò, vỏ điệp trộn vào hồ quét lên mặt giấy màu đỏ từ gỗ cây vang, đá son, màu vàng từ nụ hoa hòe, màu xanh từ lá tràm, tím từ quả mồng tơi, màu đen từ than tre. Quá trình hình thành các loại màu để vẽ tranh đã cho thấy người Việt phải rất am tường tự nhiên, đặc tính của các loại hoa cỏ, sản vật để tạo ra được một hệ màu bền vững.
Hơn hết thảy tất cả những kỹ thuật đó chính là tư duy tạo hình. Mỗi làng tranh lại có một mẫu hình khác nhau, tạo ra được những biểu tượng cùng những trường nghĩa đa dạng và phong phú, hàm chứa các tư tưởng xã hội Việt từ Nho, Phật, Đạo đến cả những quan niệm tâm linh trong dân gian.
Bên cạnh các dòng tranh dân gian thuộc thể loại tranh khắc gỗ kể trên, trong nghệ thuật tạo hình dân gian còn có thêm các thể loại tranh khá thú vị khác như dòng tranh sơn mài và tranh kính. Tranh sơn mài truyền thống được tồn tại chủ yếu trong các không gian tâm linh tín ngưỡng ở miền Bắc, còn tranh Kính cũng thuộc dòng tranh thờ, tranh tâm linh ở miền Trung trở vào Nam. Có thể nói, những chất liệu bền vững hơn so với thể loại tranh giấy này đã góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật tạo hình tranh dân gian.
2. Hình tượng con ngựa trong tranh dân gian qua một số tác phẩm tiêu biểu:
Trong tranh dân gian Việt Nam, dường như có một sự thống nhất vô hình giữa nghệ thuật điêu khắc, chạm khắc và nghệ thuật tạo hình bằng phương pháp đồ họa thủ công. Hầu hết các đề tài ngựa ta bắt gặp trên các chạm khắc, đình làng, đền miếu hay các ngôi chùa Việt, đều được những người thợ làm tranh xưa chuyển tải chúng lên những tờ tranh. Điển hình như: Mã đáo thành công, vinh quy bái tổ, ngựa bay, ngựa hầu, chầu… Tuy nhiên, điểm khác biệt là, nếu các loại hình nghệ thuật khác ít sử dụng màu thì ở nghệ thuật tranh dân gian, màu sắc đã kiến tạo nên tinh thần bức tranh. Cũng có thể chia hình tượng con ngựa trên tranh dân gian Việt Nam thành hai loại chính: Tranh ngựa biểu tượng và Tranh có hình tượng con ngựa.
- Tranh ngựa biểu tượng là tranh lấy ngựa làm biểu tượng chính trong tranh như: Mã đáo thành công, ngựa thờ, giám mã, phi mã, vân mã, địa mã….
- Tranh có hình tượng con ngựa là tranh ngựa đóng góp vào một phần của bức tranh như: Vinh quy, bái tổ, đám cưới chuột, lễ diễu hành, tranh minh họa hình tượng các nhân vật lịch sử Thánh Gióng, Trưng Vương, Trần Hưng Đạo, Quang Trung; truyện tranh như truyện Kiều, truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa…

Chuột cưỡi ngựa trong tranh Đám cưới chuột, tranh dân gian Đông Hồ

Ngựa chiến trong tranh Tam Quốc Diễn Nghĩa, tranh dân gian Đông Hồ

Ngựa chiến trong tranh Tứ Long Phù A Đẩu, tranh dân gian Đông Hồ

Thỉnh Kinh, tranh dân gian Đông Hồ

Truyện Mai Sinh, tranh dân gian Đông Hồ

Truyện Kiều, tranh dân gian Kim Hoàng


Ngựa trắng, ngựa đỏ, tranh dân gian Kim Hoàng
* Ngựa trong tranh Kim Hoàng: Ở tranh ngựa biểu tượng, con ngựa là trung tâm khắc họa của bức tranh. Các bức tranh Ngựa thờ có khá nhiều màu sắc khác nhau. Ngựa đen hay còn gọi là ngựa ô, ngựa hồng (ngựa tía), ngựa đỏ, ngựa trắng, con ngựa được quan tâm một cách đặc biệt. Các con ngựa được khắc hoạ trong một dáng vẻ thanh thoát và trang nghiêm. Tư thế của chúng thường là tư thế đứng, co một chân trước một chân sau như nhịp bước, nhưng thực tế, chúng được mô tả trong thế tĩnh nhiều hơn động. Thêm vào không gian của ngựa thường là cờ quạt, ô lọng có tính nghi lễ.
Ngựa được thắng yên cương rất cầu kỳ. Trên dầu ngựa có một gù tua hình tròn xoe và được lặp lại ở phần đai lưng phía sau yên. Cổ ngựa đeo lục lạc. Chiếc yên ngựa cong đặt lên trên một tấm phủ lưng được trang trí khá cầu kỳ. Phía trên cùng là hai lớp vân mây như ý tạo thành những đường xoắn tròn khiến cho chiếc thảm yên này trở thành điểm nhấn cho tạo hình con ngựa. Phía trên là cờ và chiếc quạt với những hình ảnh đầy tính tượng trưng. Trang trí trên chiếc quạt này là hình sóng nước và mây, trang trí trên chiếc cờ chủ yếu là dạng tua hình đuôi nheo. Chiếc lọng chiếm vị trí trung tâm ở trên cùng. Tất cả những phụ kiện này giúp cho bức tranh trở nên có tính trang nghiêm, hoặc như con ngựa đã sẵn sang để các quan thần linh cưỡi bất cứ lúc nào. Bức tranh này vốn là một bức tranh thế kỷ XVIII được vẽ ở Đền Độc Lôi với một cặp ngựa đỏ và trắng đăng đối nhau, tương tự như cách bài trí ngựa trong không gian đình, đền, miếu của người Việt. Đôi ngựa gỗ đặt ở hai bên này vừa có ý nghĩa là vật chầu hầu cho Đức Thánh, nhưng đồng thời cũng là biểu tượng cho ngày và đêm. Ngựa là phương tiện đi lại của các bậc thánh thần, nên luôn được thắng sẵn yên cương, bất cứ lúc nào cũng có thể lên đường. Ngoài ra màu đỏ và màu trắng còn có ý nghĩa con ngựa có thể đi trong cả thế giới trần tục và thế giới tâm liinh trong mọi hoàn cảnh, mọi không gian.
Từ đôi ngựa đền Độc Lôi, những con ngựa này đã được nhân rộng lên bằng cách khắc ván in tranh kế thừa của dòng tranh dân gian Kim Hoàng hiện nay. Không chỉ vậy, những tranh ngựa được vẽ gần đây cũng đã được thay đổi màu sắc cho đa dạng phù hợp với thị hiếu đương đại.

Ngựa trắng, ngựa hồng và giám mã – đền Độc Lôi, Nghệ An – hiện vật Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia
Ngoài các tranh ngựa thờ chỉ có một con ngựa với cờ quạt, thì trong các dòng tranh dân gian Việt Nam còn có thể loại tranh Giám Mã. Những bức tranh này cũng vẽ con ngựa với cờ quạt lọng rất lễ nghi, nhưng kèm theo đó là các quan giám mã. Điều này còn được thống nhất với các nghi lễ tín ngưỡng có sử dụng đồ mã.
Một trong những bộ tranh ngựa có Giám Mã cổ nhất hiện nay là bộ tranh được vẽ trên giấy dó thế kỷ XVIII ở đền Độc Lôi, Nghệ An. Bức tranh này mô tả đôi ngựa đăng đối nhau cùng với hai người quản ngựa, một người dắt ngựa, một người cầm lọng. Ngoài ra, người ta còn nhìn thấy một chiếc giá cắm quạt và cắm cờ. Điều thú vị ở bức tranh này chính là lối vẽ mang tính chất ước lệ tượng hình. Chiếc giá cắm cờ, quạt và có thể dung để cắm lọng là cách miêu tả hiện thực bài trí trong các ngôi đền miếu của người Việt. Giá cắm cờ, quạt, lọng này thường là phụ kiện đặt cùng với con ngựa gỗ được gắn chân vào bốn bánh xe. Thế nhưng hai con ngựa được moo tả ở đây lại là ngựa thật được thắng yên cương rất đẹp đẽ để chuẩn bị xuất phát. Hai vị quản ngựa có cùng một kiểu trang phục: cởi trần, đóng khố đen, đầu đội nón linh có tua. Một vị đang cầm lọng, có thể là vựa rút lọng ra khỏi chiếc giá gỗ. còn vị kia thì đang so dây cương màu đỏ.
Đúng về mặt tạo hình, ở đây ta thấy rằng cách tạo hình không gian của các đồ vật, con người con vật được vẽ hoàn toàn theo lối ước lệ. Các hình được chồng lên nhau hoàn toàn không có không gian trước sau, mặc dầu cái giá cầm cờ quạt được vẽ chéo góc, nhưng chân ngựa, chân người lại chồng lên chân chiếc giá này. Tính chất ước lệ này còn được thể hiện ra trong quy tắc tạo hình khá thường gặp ở các tranh cổ của người Việt đó là tạo ra một chiếc khung bên ngoài, phía trên và phía dưới được chia là hai ô nhỏ, trong đó vẽ tứ linh Long – Ly – Quy – Phượng. Điều này ta bắt gặp trong khá nhiều các trang trục dọc của nghệ thuật tranh dân gian Hàng Trống.
Riêng đối với hình tượng con ngựa, ngoài ý nghĩa có tính đồng nhất với đôi ngựa thờ kể trên, ta thấy rằng, việc quan sát của người xưa đối với hình tượng này là rất kỹ. Con ngựa mặc dầu được vẽ theo lối viền nét là chính, nhưng những nét viền này đã góp phần tạo nên khối hình. Khối đầu, mũi, miệng, mắt và những nếp gấp ở cổ, kheo chân đã cho thấy việc nắm bắt hình dáng là vô cùng tinh tế. Thêm vào đó là những mảng trắng để lại ở chân, mông, cổ của ngựa hồng như gợi ý rằng con ngựa này có khối hình rõ ràng, khúc chiết. Ngoài ra, ở cặp đôi bức tranh này, những trang tri khác củ cờ quạt, lọng cũng tương tự như các bức ngựa trước. Tuy nhiên, lối vẽ có phần bay bổng và mềm mại hơn.
Thể loại tranh Giám mã là loại tranh khá phổ biến trong các dòng tranh dân gian Việt Nam. Tranh Đông Hồ, Kim Hoàng cũng có mẫu hình này, nhưng kích thước tranh khá nhỏ khoảng 37cm x 26 cm. Tranh Đông Hồ in trên nền giấy điệp trắng còn Tranh Kim Hoàng in trên nền giấy dó và tô màu phẩm. Hình tượng hai ông Giám Mã này có thể cùng là một mẫu hình, mà các làng tranh học tập lẫn nhau, nhưng qua tay những nghệ nhân khắc ván khác nhau, chúng đã được thay đổi đi một số chi tiết. Con ngựa đóng yên cương với các gù tua ở đầu và phía đuôi, yếm ngực có đường xoắn và các tua nhỏ, trên cỗ có đeo lục lạc được tạo hình ngay phía trên của chiếc yếm ngực để trở thành một khối. Người giám mã đứng phía trước với trang phục lính lệ, tay cầm một chiếc cờ lệnh có hình chữ nhật trên đó có khắc hình các quẻ Kinh Dịch. Tuy nhiên, theo thời gian, những hình ảnh này đã bị mã hoá trở thành có tính ước lệ đại khái, chứ không còn rõ nét đúng nữa.

Giám Mã, tranh dân gian Đông Hồ

Giám Mã, tranh dân gian Kim Hoàng – bản tô màu phẩm trên giấy dó
Điểm khác biệt giữa hai bức tranh này hầu như chỉ là kỹ thuật in và tô. Ở tranh Đông Hồ, bức tranh này con ngựa dược chồng hai ván màu là ván màu trắng và ván màu đỏ để tạo ra ngựa màu hồng. Mặc dầu màu ở đây khá bầm và đỏ thường có sắc nâu nhiều hơn, nên màu con ngựa không được tươi. So với Đông Hồ thì Kim Hoàng được in xong tô, nên tranh có nhiều sắc độ hơn. Một vấn đề khác là làng tranh Kim Hoàng mới được khôi phục trở lại vài năm trở lại đây nên các tranh này dược in tô theo tư duy của người đương thời, giấy xuyến đỏ vảy vàng là giấy nhập từ Trung Quôc sang. Màu thướng sử dụng là màu goache thay cho màu tự nhiên trong truyền thống. Do đó, sắc tố của các bức tranh cũng ít nhiều khác biệt.
* Ngựa trong tranh dân gian Đông Hồ:
Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, hình tượng con ngựa được tìm thấy trên khá nhiều tác phẩm khác nhau khắc họa các nhân vật cưỡi ngựa. Đa số các tác phẩm này là thuộc dòng tranh lịch sử, khắc họa các nhân vật lịch sử hoặc các nhân vật trong các tích xưa của Việt Nam và Trung Quốc. Bức tranh Quang Trung là một điển hình khắc họa hình ảnh Quang Trung ngồi trên lưng ngựa tay cầm thương. Ta cũng bắt gặp một bức họa tương tự như vậy nhưng chữ đề trên tranh là Trần Hưng Đạo. Như vậy, đối với tâm thức dân gian, đôi khi những vị anh hùng dân tộc là hình ảnh được khắc trong tâm khảm chứ không nhất thiết phải mang những đặc điểm khác nhau. Các nhân vật này đôi khi chỉ thay mỗi cái áo hay chữ đề trên tranh đã trở nên khác biệt.

Quang Trung, tranh dân gian Đông Hồ
Cho đến nay cũng có rất nhiều tích truyện đã không còn phổ biến nữa, thậm chí trong quá trình phát triển và lưu truyền, nhiều bức đã bị đục bỏ những chữ Hán chú thích trên tranh, nên hầu như các tác phẩm này chỉ có thông điệp về hình tượng chứ không đem lại sự truyền tải về nội dung. Hoặc cũng có những bức tranh vẫn có những dòng chữ đề trên tranh nhưng ta cũng chỉ biết tên nhân vật chứ không rõ tích truyện.

Quan văn, tranh dân gian Đông Hồ
Tuy vậy, ở những bức tranh dân gian này, hình tượng con ngựa đã được vẽ khá sinh động với nhiều thế dáng khác nhau. Điều này cho thấy sự quan sát tinh tế của các nghệ nhân dân gian xưa. Không còn là những con ngựa được nhìn nghiêng theo dạng 1/2 nữa mà đã được xoay chiều, đổi dáng rất sinh động, nhìn ở góc ¾. Để thể hiện ở góc nhìn ¾ các nghệ nhân đã thể hiện rõ nhất trong dáng của những đôi chân. Thường thì chúng được tạo hình so le nhau, chân trên chân dưới chứ không cùng trên một đường thẳng. Dáng mặt của con ngựa cũng được chú trọng. Điển hình như bức Quang Trung hay bức Quan Văn, con ngựa được mô tả nhìn thấy hai tai và hai mắt, bức Trưng Nữ Vương con ngựa còn ngoái đầu nhìn lại trong khi đôi chân thể hiện là con ngựa đang phi. Như vậy, ở những bức tranh này, hình thái của con ngựa đã được mô tả trong thế động. Con thì đang phi nước đại, con thì đi bộ chậm rãi, hay con thì có phần thong dong. Thế chân, thế dáng của những con ngựa này đều góp phần cho thấy tốc độ của sự di chuyển. Mặc dầu chỉ sử dụng nét làm đường bao và sử dụng màu tô thành một mảng phẳng, nhưng rõ ràng hệ thống nét của tranh Đông Hồ đã góp phần làm bức tranh sinh động và chuyển động. Đặc biệt, bức tranh Trưng Nữ Vương con ngựa và chủ tướng của nó như hòa trong một nhịp điệu uyển chuyển mà hùng dũng, tư thế của một nữ anh hùng chiến thắng trận chiến trở về.

Trưng Vương sát Hán tướng, tranh dân gian Đông Hồ


Triệu Tử Long, tranh Đông Hồ - Trương Phi, tranh Đông Hồ

Giải cứu Thanh Long quan – Phàn Lê Hoa, tranh dân gian Đông Hồ đầu thế kỷ XX

Trung Hoa dân quốc – Tiền đại Tổng thống Lê Nguyên Hồng, tranh dân gian Đông Hồ đầu thế kỷ XX
Hai bức tranh nữ tướng Phàn Lê Hoa và tổng thống Lê Nguyên Hồng là những tranh được khắc in vào đầu thế kỷ XX.
Phàn Lê Hoa là nhân vật trong truyện thơ Nôm Phàn Lê Hoa của văn học trung đại Việt Nam. Nhân vật này có nguồn gốc từ truyền thuyết tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, nổi tiếng Tiết Đinh San chinh Tây khi vào Việt Nam, câu chuyện được Việt hóa thành truyện thơ Nôm và các tích tuồng, chèo, lấy tên nhân vật nữ chính là Phàn Lê Hoa. Thanh Long Quan là một cửa ải quan trọng ở vùng Tây Lương. Trong cuộc chinh phạt của quân nhà Đường, Tiết Đinh San cùng đạo quân tiên phong tiến vào Thanh Long quan thì bị quân Tây Lương bao vây, rơi vào thế nguy hiểm, đường tiếp tế bị cắt, quân sĩ hao mòn. Phàn Lê Hoa chủ động xin ra tay nhưng hiểu rằng đánh trực diện thì nó khó thắng nên dùng mưu trí. Phàn Lê Hoa chia quân ra làm nhiều mũi, ban ngày cho phô trương cờ trống, ban đêm bí mật dẫn tinh binh đột nhập phía sau, cuối cùng đánh thẳng vào doanh trại và giành chiến thắng giải vây, Tiết Đinh San thoát khỏi thế hiểm.
So với bức tranh Trưng Vương thì bức tranh này có phần khác nhau về mặt tinh thần và thế dáng, bức tranh cũng tạo nên sự phân biệt khác nhau giữa nữ tướng Việt và tích truyện Trung Quốc, thông qua cách thức mô tả hoa cài tóc của Phàn Lê Hoa. Bức tranh mô tả con ngựa màu hồng với thế dáng rất ung dung nhưng phản ánh sự khải hoàn sau khi chiến thắng.
Đại Tổng thống Lê Nguyên Hồng là một bức tranh lịch sử. Tranh khắc họa một chính khách quan trọng của Trung Hoa Dân quốc thời kỳ đầu, từng hai lần giữ chức Đại Tổng thống. Ông sinh năm 1864 mất năm 1928, quê ở Hồ Bắc, Trung Quốc xuất thân là một võ quan trong quân đội nhà Thanh. Ông là người đóng vai trò quan trọng trong cách mạng Tân Hợi năm 1911 khi Khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, ông được suy tôn làm Tổng Đốc Hồ Bắc và góp phần lật đổ nhà Thanh. Sau đó, ông có hai lần làm Đại Tổng thống Trung Hoa Dân quốc. Lần thứ nhất là 1916-1917, sau khi Viên Thế Khải qua đời, đất nước rơi vào hỗn loạn, Lê Nguyên Hồng được chọn làm Đại Tổng thống để ổn định tình hình. Lần thứ hai là 1922-1923 trong giai đoạn quân phiệt tranh chấp, ông tiếp tục được mời giữ chức với vai trò nhân vật trung gian, ít tham vọng quyền lực. Bức tranh này có thể ra đời vào hoàn cảnh Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu hảo đầu thế kỷ XX. Rất có thể bức tranh được khắc họa sau khi ông lên làm Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân quốc năm 1917.
Mặc dầu hình tượng con ngựa ở đây không phải là những bức tranh Ngựa độc lập, nhưng rõ ràng hình tượng này đã ghi nhận vai trò quan trọng của nó trong lịch sử. Chúng không chỉ là phương tiện để di chuyển, hay tham gia vào các cuộc chiến mà còn là một nhân vật mang đầy sắc thái biểu cảm. Từ nhịp bước chân nhanh chậm cho đến mô tả sắc thái của con vật cũng phần nào nói lên tính cách hay uy dũng của chủ nhân. Tính hiện thực cũng được chú trọng nhiều hơn, mặc dầu không gian trong tranh vẫn mang nhiều tính ước lệ.

Ngựa Gióng, tranh dân gian Đông Hồ
Ngoài các tác phẩm mang tính chất minh họa chân dung nhân vật lịch sử hoặc các nhân vật huyền sử, huyền thoại, thì các bức tranh về những câu chuyện lịch sử cũng có hình tượng con ngựa tham gia. Nổi tiếng nhất trong số đó là tranh Gióng. Bức tranh khắc họa hình tượng chú bé Gióng oai phong, lẫm liệt, tuổi nhỏ, chí lớn, nhổ tre đằng ngà để đánh tan giặc Ân. Gióng có lẽ không chỉ là một huyền thoại mà còn là biểu tượng cho vị thế của một đất nước dẫu nhỏ bé đơn sơ, nhưng bất khuất bước ra từ khởi thủy. Hình tượng con ngựa phi nước đại, dưới chân là giặc đang hoảng sợ bỏ chạy. Phía sau đuôi ngựa là lớp lớp đoàn quân vô hình như một sức mạnh dân tộc. Xét về mặt tạo hình, trong những bối cảnh khác nhau, hình tượng con ngựa đã được vận dụng một cách linh hoạt đáng ngạc nhiên của tư duy dân gian.
Ngựa trong tranh dân gian Hàng Trống:
So với nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ thì tranh dân gian Hàng Trống dường như mang một phong vị khác cả về kích thước lẫn cách thức in vẽ và sử dụng màu. Tranh Hàng Trống bên cạnh những bức tranh chúc tụng: Tứ bình, Tứ quý thì đa số là tranh thờ phục vụ cho các tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Đạo Mẫu và Đạo giáo là những tín ngưỡng gắn liền với tự nhiên, vũ trụ quan Phương Đông và thờ cúng các vị thần linh của người Việt. Do đó, hình tượng con ngựa trong những bức tranh Hàng Trống chủ yếu lại tranh khắc họa hình ảnh những vị thần cưỡi ngựa đi tuần hoặc ca ngợi cuộc sống nhàn du tiên cảnh.

Ông Hoàng Bảy cưỡi ngựa đỏ, tranh dân gian Đông Hồ
Bức tranh ông Hoàng Bảy là một điển hình khắc họa hình ảnh ông Hoàng mặc áo nhung xanh, đội xanh, đội khăn xanh, cưỡi ngựa đỏ. Xung quanh là bốn lính hậu cần, người cầm trống, người cầm quạt, người tuốt gươm, người vác giáo đi theo tiền hô hậu ủng. Bức tranh ông Hoàng cầm quân cũng tương tự, với 12 lính hầu bên trái và bên phải. Bên trái là văn, bên phải là võ. Hàng Văn mang theo trống, ô, cuốn thư, hòm sách, cây đèn, cây quạt. Bên Võ là gươm đao giáo mác và cờ lọng. Ông Hoàng Cả cưỡi con ngựa trắng đang đi giữa hàng quân oai phong mà thư thái.

Ông Hoàng cầm quân, tranh dân gian Hàng Trống
Trong nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam, đặc biệt là tranh dân gian Hàng Trống, màu sắc thường sử dụng là màu nguyên chất và là màu tượng trưng cho ngũ hành, Thế nên hầu hết các màu đều có ý nghĩa và có tính quy định, quy củ đối với những nhân vật khác nhau.
Điều ta thấy trước tiên chính là các bức tranh được vẽ ra từ các tích của các vị thần, quan, hoàng với các quan niệm khác nhau. Ông Hoàng Bảy hay dân gian quen gọi là Quan Hoàng Bảy Bảo Hà là một vị Thánh trong Đạo Mẫu, truyền thuyết cho biết ông là một danh tướng đời Lê, có công trấn giữ biên cương phía Bắc, đánh dẹp giặc ngoại xâm, bảo vệ dân lành nên sau khi mất ông được dân gian tôn thờ như một thần linh hiển Thánh. Trong bức tranh vẽ ông giống với một võ tướng trần gian nhưng mặc đồ the xanh mang uy linh của vùng sơn trang. Ông cưỡi con ngựa tía (đỏ) thuộc hành hỏa, tượng trưng cho sức mạnh, uy quyền và sự linh hoạt.
Ông Hoàng Cả không có thần tích truyền thuyết cụ thể nhưng được xem là vị đứng đầu trong hàng quan Hoàng nên thường mặc áo màu đỏ. Ông cưỡi ngựa trắng thuộc hành Kim, tượng trưng cho kỷ cương.
Có thể thấy rằng so với tranh dân gian Đông Hồ thì tố chất huyền thoại trong tranh Hàng Trống đậm nét hơn. Về mặt tạo hình, những con ngựa ở đây cũng mang tính biểu tượng nhiều hơn là khắc họa thực tế. Những con ngựa của những ông Hoàng cưỡi không quá chi tiết về tạo dáng như dáng đầu, dáng chân theo đúng cấu trúc tỷ lệ hình thức của con ngựa, mà mang tính ước lệ thuận mắt. Ngựa có thể cao, lùn hoặc bị che khuất bởi các nhân vật khác phía trước hoặc phía sau, miễn là vẫn mang dáng hình ngựa đầy đủ đặc điểm. Màu sắc chính là yếu tố nổi trội và có ý nghĩa tượng trưng. Từ màu áo của các vị quan cho đến sắc ngựa, thường là những màu liên quan đến ngũ hành và nêu ra tính đặc trưng của nhân vật.

Hành Say: Thái Vỹ - Tổng Đàn, tranh thờ Đạo giáo, tranh dân gian Hàng Trống
- Màu xanh (lục, lam) - hành Mộc: tượng trưng cho sự sinh trưởng, phát triển gắn với phương Đông và mùa Xuân.
- Màu đỏ (tía) - hành Hỏa: tượng trưng cho nhiệt năng, ánh sáng, quyền uy, mạnh mẽ gắn với phương Nam, mùa Hạ.
- Màu vàng - hành Thổ: tượng trưng cho trung tâm, ổn định, nuôi dưỡng, bao dung.
- Màu trắng hành Kim: tượng trưng cho sự cứng rắn, thanh khiết, kỷ cương gắn với phương Tây, mùa Thu.
- Màu đen - hành Thủy: tượng trưng cho nước, trí tuệ mềm mại, bền bỉ, gắn với phương Bắc, mùa Đông.
Có thể nói, ngựa được biểu trưng bằng những màu sắc như đỏ, vàng, xanh, trắng, đen đã gia tăng vào đó những dư vị của đời sống tín ngưỡng. Những sắc màu ngũ hành này chính là một năng lượng sống hai chiều, tương sinh và tương khắc, góp phần thể hiện ra uy phong những vị thần trong các điện thờ hướng tới các giá trị Thiện thì phù trợ, nâng đỡ; Ác thì diệt trừ, tiêu tán. Vậy nên màu sắc ở đây không chỉ có giá trị làm đẹp, làm sống động cho những bức tranh tâm linh mà còn thể hiện ra tính uy quyền, phép tắc và đạo lý.
Trong số những bức tranh thờ Đạo giáo thì tranh Hành Say: Thái Vỹ - Tổng Đàn là tác phẩm khắc họa một vị tướng cưỡi ngựa trắng khá đặc sắc. Nhân vật chính trong tranh là bức tranh vẽ vua Đại Vũ, người tập ra nhà Hạ. Ông là con của ông Cổn, người thu đất đai tức nhưỡng (tự nở ra khi gặp nước) để trị nạn hồng thủy cứu thiên hạ. Thiên đế giết chết ông Cổn. Ông Vũ thay cha ngày đêm lo trị thủy, có lúc hóa rồng để đào rạch sông ngòi, có lúc hóa gấu húc đổ núi đá, moi hang qua núi đá, để dẫn nước chảy qua núi, khai thông dòng chảy, đưa nước ra biển Đông, cứu được muôn dân, cày cấy muôn đời no ấm. Người đời nhớ ơn Vua Thuấn đã nhường ngôi cho ông Vũ để lập ra nhà Hạ.
Tranh khắc họa hình tượng ông cưỡi ngựa trắng vung gươm oai vệ, trung tâm của bức tranh. Phía sau lưng có một lính hầu quạt. Dưới chân ông là bốn vị cưỡi ngựa, xung quanh là mây vần vũ, tượng trưng cho trời đất thuở khai thiên. Hình tượng con ngựa mang phong thái hiền lành ngoái đầu lại phía sau như tạo nên một động thái nhìn bàn dân thiên hạ, trong khi nhân vật chủ tướng cưỡi ngựa được diễn tả ở vị thế trung tâm. Bên cạnh đó lối phóng đại về mặt tỷ lệ hình ảnh cho thấy tính đề cao oai lực của nhân vật.
Điểm qua những bức tranh dân gian tiêu biểu của Kim Hoàng, Đông Hồ, Hàng Trống, ta thấy rằng, chính bằng việc diễn đạt không gian ước lệ, ý niệm của nghệ thuật dân gian Việt Nam bằng cả đường nét và màu sắc đã tạo nên những giá trị sinh động cho việc thể hiện những ý niệm về đời sống và tâm linh. Trong đó, hình tượng con ngựa vừa góp thêm một giá trị biểu cảm cho những sắc thái tinh thần từ những góc nhìn khác nhau.
- Nguồn: Theo sách “Tạo hình ngựa trong mỹ thuật Việt” của PGS.TS. Trang Thanh Hiền (chủ biên); PGS. TS. Quách Thị Ngọc An – KTS. Hoàng Anh Đức -
*Lưu ý: Toàn bộ nội dung bài viết được chúng tôi sưu tầm lại từ nhiều nguồn, có thể có sai sót một chút về nội dung và tác giả. Chúng tôi sưu tầm với mục đích dành cho các bạn sinh viên và người yêu nghệ thuật tìm hiểu và nghiên cứu. Chúng tôi không đăng bài để bán sách, bán nội dung hay bất cứ điều gì liên quan đến bài viết. Có những bài chúng tôi không tìm thấy tác giả, nếu tác giả nhìn thấy vui lòng liên hệ với chúng tôi để chỉnh sửa hoặc xóa bài viết (trường hợp tác giả không đồng ý). Người đọc nếu biết tên tác giả cũng xin vui lòng cung cấp cho chúng tôi để chúng tôi bổ sung lại. Trân trọng!
>>> Hình tượng con ngựa trong gốm Việt
>>> Hình tượng con ngựa trong điêu khắc đá
>>> Giải phẫu cơ thể loại ngựa











