Giáo trình trang trí cơ bản do Thầy Trịnh Ngọc Lâm ( nguyên chủ nhiệm khoa cơ bản - thành viên hội đồng chấm thi ĐH ) biên soạn.  Giáo trình trang trí cơ bản rất chi tiết dành cho những bạn sinh viên và các bạn có niềm đam mê với môn trang trí cơ bản  tìm hiểu thêm.

giao-trinh-trang-tri-co-ban

 

 

Chương I

Sơ Lược Về Nghệ Thuật Trang Trí Thực Dụng Trong Đời Sống

1. Vài nét về lịch sử nghệ thuật trang trí thực dụng.

M.Gorki có nói đại ý : “ về bản chất , mỗi con người là một nghệ sĩ ”, ý thức vươn tới cái đẹp là phẩm chất riêng của con người phẩm chất ấy được đào luyện , tích lũy trong quá trình lao động và tự cải tạo trong cả một thời  gian dài hàng vạn năm. Từ trình độ thô sơ như chiếc dìu đá cổ xưa, những nét khắc vạch trong hang động hoang dã ngày nay con người đã sáng tạo cho mình những công trình kiến trúc nguy nga đồ sộ, những loại máy bay siêu thanh thon thả chứa hàng trăm chỗ ngồi tiện nghi , những cỗ máy hàng trăm tấn mà không hề thô kệch. Ngày nay con người không chỉ thưởng thức cái đẹp trong tranh, trong tượng, trong các buổi biểu diễn nghệ thuật mà nó yêu cầu phải có cái đẹp ở khắp mọi nơi, mọi cái. Từ nơi ăn , chốn ở , từ chỗ học tập, nơi giải trí cho đến quần áo vải vóc, bàn ghế, đồ dùng … tất cả mọi cái đều cần phải đẹp. Nhu cầu ấy là tất yếu và càng ngày càng cao.

Con người vĩ đại không những chỉ vì biết cải tạo thiên nhiên mà còn ở chỗ qua sự biến cải ấy mà nâng mình lên một bậc cao hơn nữa. Con người không những chỉ xây dựng nên cái đẹp mà chính cái đẹp cũng tác động lại con người. phạm trù thẩm mỹ và phạm trù đạo đức trong đời sống xã hội luôn tác động vào nhau , biến cải nhau. Do đó cái đẹp đặc biệt là phần thẩm  mỹ trong nghệ thuật trang trí thực dụng có tác dụng cải tạo vô cùng lớn lao đơi với con người, vì lẽ nó có  mặt khắp nới , trong mọi thứ và hơn nữa nó luôn luôn được biểu hiện song song với trình độ khoa học kỹ thuật tương ứng.

Nghệ thuật trang trí thực dụng luôn luôn bị chi phối bởi thị hiếu thẩm mỹ của từng giai cấp trong xã hội. Nó phản ánh ý thức trình độ xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Tuy nhiên ở đây không nên hiểu một cách máy móc và cứng nhắc về mặt thẩm mỹ.

I.  Nghệ thuật trang trí thức dụng dân gian

a) Tính chất hài hòa giữa mặt thẩm mỹ và mặt thực dụng :

Trong các truyện cổ dân gian, như chúng ta đều biết, giá trị lớn lao của chúng không những chỉ ở chỗ nói lên sức tưởng tượng tuyệt vời và tính lãng mạng tích cự mang nội dung giáo dục sâu sắc mà còn ở chỗ nó luôn luôn bán chắc vào gốc rể vào hiện thực, lấy hiện thực làm cơ sở và từ đó mà nâng nó lên tầng cao của tình cảm lãng mạn.

      Trong nghệ thuật  trang trí thực dụng cũng có điểm tương đồng như vậy. Tính thực dụng và tính nghệ thuật luôn luôn gắn bó , quyện vào nhau một cách hài hòa hữ ý. Nhu cầu thực dụng là điểm xuất phát để chế tác ra đồ dùng , ra công cụ sản xuất. Nhưng người ta đã biết bản chất con người vốn đã có máu nghệ sĩ cho nên nó không thể không trau chuốt, tô điểm những sản phẩm do mình chế tác ra và nâng nó lên thành tác phẩm nghệ thuật nếu có thể nói được như vậy . Tôi đã được chứng kiến người nông dân Mường Thanh Hóa làm một chiếc điếu cày bằng một dụng cụ duy nhất là con dao, bác đã gọt dũa, tiện chuốt một cách khéo léo và say sưa như thế nào.

      Chỉ cần qua một vật nhỏ như chiếc điếu cày nói trên ta cũng thấy rõ  tỏng nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian bao giờ tính thực dụng và tính thẩm mỹ cũng đan vào nhau một cách hài hòa hữu lý.Từ việc sử dụng chất liệu, tre , cật tre , tinh tre , mây đều là những chất liệu sẵn có rẻ tiền ,  vào việc chế tác sản phẩm cho tới sử dụng chất liệu vào trang trí , kết cấu . Ở  đây chúng ta cần chú ý là hình thức trang trí và chế tác đều dựa trên chất liệu cụ thể . Và cũng do đó ta mới đánh giá là tính thẩm mỹ và thực dụng ở đây là rất cao. Nói như vậy là vì ngày nay vẫn còn không hiếm những sản phẩm không khai thác được ưu thế của chất liệu mà sử dụng. Gỗ là chất liệu đẹp, bản thân màu sắc, vân , thớ là đã mang tính trang trí rồi, trong khi đó người thợ bắt nóp uốn éo như dây leo , hoặc có hình thù như tre trúc, như vậy không những nó thua cái đẹp của tre , trúc mà còn tốn công cầu ký cô lối , mang trong nó tính phản thẩm mỹ rõ rệt. Ta cũng có thể thấy sơn mài ra đồng, thủy tinh ra đá, gia sứ , gốm bắt chước đá ,gỗ bắt chước tre , nhựa bắt chước gỗ , bắt chước thủy tinh ..v..v.tất cả những cái đó chỉ nói lên một điều trình độ thẩm mỹ tồi.

     Trên thế giới ngày nay khuynh hướng mỹ thuật công  nghiệp đúng đắn là chủ yếu . Nhưng không ít những hướng thao túng chất liệu mất hẳn tính thực dụng của nó , mất cái đẹp riêng của nó và đẩy kỹ thuật công nghiệp vào chỗ làm trò nhằm thỏa mãn cho một nhóm người với thị hiếu kì cục và bé tắc.

      Học tập nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian trước hết phải học tập tính thẩm mỹ và tính thực dụng đã được sử lý như thế nào mà từ đó mà vận dụng một cách thông minh nhất vào mỹ thuật công nghiệp hiện đại mà mỗi chúng ta đều là những người có trách nhiệm hơn ai hết trong công việc này.

b) Linh hồn của đồ dùng

    Trước đây, vì đói kém hay vì một lý do bắt buộc nào đó người nông dân phải rời làng xóm, rời gốc đa giếng nước , rời mái nhà thân thương của mình đi tha hương cầu thực. Gạt ra ngoài những yếu tố tư tưởng , đạo đức phong tục tập quán , chúng ta thấy còn lại một yếu tố tình cảm quan trọng nằm trong đó khiến cho khó ai có thể lôi người nông dân ra khỏi ngôi nhà của mình được . Đó là tính chất bình dị mộc mạc thân thiết , gắn bó của những cái mà do chính bàn tay lao động cần cù khéo léo tạo ra. Người xưa có nói những vật dụng lâu năm cũng trở nên có linh khí, đứng về mặt lô gich tình cảm khó mà phủ nhận được.

         Khi nói nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian thì cũng chính là nói nghệ thuật trang trí thực dụng của nông dân bởi vì gốc gác vấn đề chính là từ ở đó . Tổ chức kinh tế nông thôn trước đây , chế độ của nền nghệ thuật trên ,là kinh tế tự cấp tự túc , việc trao đổi hàng hóa chỉ diễn ra ở  mức độ rất thấp . Bởi vậy từ căn nhà caí bếp cho tới cái gường cái chõng, cái bàn thờ ông bà ông vải, từ cái rổ cái giá cái nong , cái nia cho tới cái gầu tát nước, cái cày ,cái bừa , cái cào, bàn trang ..v.v. Hầu hết là tự chế tác hoặc hợp lực , hoặc đổi công để chế tác. Từ cái nhìn đứng trên góc độ ấy , mình làm cái này là để thỏa mãn nhu cầu của chính mình , cho nên việc chế tác là rất thiết thực rất sát, vì rằng người tiêu thụ và người chế tác chỉ là một người đề ra yêu cầu và người thực hiện chỉ là một.

       Nhu cầu thuận tiện trong sử dụng, nhu cầu thẩm  mỹ trong sáng tạo ra vật dụng, đều rất ăn ý nhịp nhàng, với nhau, nó suất hiện song song ngay trong khi chế tác. Phải nói đó là cảm hứng của họa sĩ  trong sáng tác và niềm say mê của kỹ sư trong phát minh. Một sáng tác ra đời đó là một phần máu thịt của tác giả tác giả lo lắng, hân hoan , đau khổ .v.v.. thì ở đây phần nào cũng như vậy Huống hồ những vật dụng lại được sử dụng như những người bạn trong sản xuất trong sinh hoạt, nó giúp con người vươn lên cao hơn chống đỡ, chinh phục thiên nhiên.

        Ngày nay nếu đứng lùi một chặng đường lịch sử, đủ khoảng cách để đánh giá, ta càng thấy rõ tính khoa học và mỹ cảm của con người đã thể hiện vào vaantj dụng của mình như thế nào, tính chất bình dị, thân thiết, gắn bó giũa đồ dùng và con người ra sao , từ đó rút ra những bài học không nhỏ cho những ai đã sáng tác những đồ dùng hình thù gượng gạo xa lạ với việc sử dụng vafnhu càu thẩm mỹ của con người và đặc biệt là con người Việt Nam.

          Tuy nhiên ta cũng không nên như một số người đã quá thổi phồng, hoăc hiểu một cách sai lệch về vai trò của  nghệ thuật trang trí thực dụng đối với mỹ thuật công nghiệp ngày nay. Do đó để ra khung hướng phục cổ, sử dụng nguyên sy hoặc nâng lên thành  những tác phẩm trang trí để trình bày mà không thực dụng. Họ không thấy rằng mỗi thời đại  tuy có kế thừa di sản tinh thần và thành tựu của thời đại trước đó song nó cũng có những nhu cầu riêng cần phải sáng tạo ra sản phẩm tinh thần của thời đại mình. Cho nên thời đại mới không thể khuôn  mình một cách chật hẹp trong khuôn khổ của thẩm mỹ cũ được. Chưa nói là nhu cầu sử dụng ngày nay cũng đã khác trước nhiều.

    Mặt khác vì chưa biết tháo rỡ cái hay của nghệ thuật trang trí thực dụng dan gian trước đay nên tuy thấy hay chung chung mà không sử dụng được, từ đó khi thì tựa hồ như dân tọc khi thì tựa hồ như tây. Việc học tập vốn cố đòi hỏi phải tỉnh táo và suy  nghĩ sâu sắc, không phải dễ dàng và cứ bắt trước là được. Và đặc biệt cần lên án những kẻ đầu cơ tính dân tộc. Vì rằng những người này do cách làm trục lợi của mình che lấp bản chất thẩm mỹ chaanchinhs của nghệ thuật dân gian, nghệ thuật ấy trở thành một thứ “ kích nhi viện chí ”cản trở sự này nở của thẩm mỹ hiện đại. Phải tìm hiểu sâu sắc và khai thác một cách thông minh nhất thì mới là cách trân trọng loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

c. Những ảnh hưởng xấu từ các tầng lớp trên dội xuống

      Cũng như trong văn học dân gian, nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian không phải lúc nào cũng thoát ly một cách trọn vẹn cách nhìn của các tầng lớp trên dội xuống và ảnh hưởng này thấy rõ nét nhất là trong các gia đình thuộc tầng lớp phú nông và các lớp người mới có máu mặt. Thị hiếu của họ là học đòi trưởng giả, thị hiếu đó chi phối thậm trí cả quan niệm, tài nghệ cảu người thợ. Bởi vậy chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy những sản phẩm do chính người thợ thủ công – nông dân tạo tác ra lại có khi mang tính chất khoe khoang, cầu kỳ vô lối, kém tiện dụng. Hoặc có khi mang tính chất chiết trung hẩu lốn, không có phong cách.

        Tuy nhiên thị hiếu này không phải là phổ biến ở nông thôn mà chủ yếu là ở tầng lớp thị dân, tư sản, phú nông. Còn trong dân gian mà chủ yếu là ở nông dấn nghệ thuật trang trí thực dụng vẫn giữ được  những nét mộc mạc, trong sáng, và hợp lý của nó. Nếu có những phần những cố có điểm xuyết những mô típ trang trí thì cũng rất ăn ý với dáng dấp chung và thực sự tăng phần duyên dáng cho đồ dùng mà thôi.

d) Tính mẫu mực đời đời cảu nghệ thuật trang trí thực dụng dân  gian :

       Nghiên cứu nghệ thậttrang trí thực dụng dân gian chúng ta thấy kết tinh lại ở đó những ưu điểm của cả một quá trình lịch sử lâu đời được tích lũy lại về mặt thẩm mỹ cũng như trong thực tiễn sử dụng và chính ở đó ta hoàn toàn có thể tính khoa học cao của nó mà ngày nay những người làm công tác mỹ thuật công nghiệp chúng ta cần phải hiểu và cần biết cách khai thác :

-          Tính phổ biến : tính phổ biến ở đây không phải chỉ có ý nghĩa là nó được  ứng dụng rộng rãi, mà thực chất phía sau của nó là tính dân tộc sâu sắc, nó đáp ứng được nhu cầu thầm mỹ cao và thực dụng trong quảng đại quần chúng.

-          Đồng thời với ưi điểm trên là tính hợp lý ( phù hợp với điều kiện sản xuất, khai thác với chât liệu trong nước, chất liệu điạ phương ) giữa tính thẩm mỹ và tính thực dụng, giũa bền và rẻ ….

-         Tính hài hòa thống nhất giữa con người, môi trường và đồ vật ( tầm vóc, tâm hôn, khí hậu, địa dư .

II. Nghệ thuật trang trí thực dụng cung đình.

   Khi nói về nghệ thuật trang trí thực dụng cung đình tức là nói chủ yếu trong thời kỳ phong kiến và những nhân xét ở đây mang tính chất tổng quát đối lập với nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian. Mặt khác đây là một lĩnh vực khá phức tạp, trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong từng thời kỳ thịnh suy của các triều đại quan niệm đều có khác. Do đó vấn đề đặt ra là có tính chất đại thể, không nên hiểu một cách máy móc, cứng nhắc. Vì muốn có nhứng đánh giá cụ thể chi tiết đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu lâu dài và công phu hơn nhiều.

       Như trên kia đã nhận xét, tuy tất cả những công trình nghệ thuật, kiến trúc, mỹ nghệ .v…v đều do nhân dân lao động sáng tạo nên, dù đólà cung vua phủ chúa cũng vậy. Nhưng trong khi phải phục vụ cho giai cấp thống trị người thợ thủ công không thể thoát khỏi ảnh hưởng, hoặc hơn nữa bị quan niệm thẩm mỹ của chúng chi phối sâu sắc. Bời vậy khi nhà nước  phong kiến đang ở thời kỳ hưng thịnh, hoặc vừa được giải phóng khỏi ách ngoại xâm ,mâu thuẫn giai cấp chưa phát triển đến mức gay gắt và thậm chí có khi đặt tới một hình thức dân chủ nào đó thì, quan niệm thẩm mỹ cũng do đó mà có phần gần giũ với nghệ thuật thực dụng dân gian. Khác hẳn với thời kỳ suy vong, khi bọn vua chúa bất tài ăn chơi trụy lạc thì khuynh hướng thẩm mỹ mang tính chất xa hoa, cầu kỳ lông lẫy và kém thực dụng thể hiện rõ nét nhất là ở kiến trúc.

      Từ đó chúng ta thấy ở những thời kỳ hưng thịnh như thời lý một phần thời Trần, Lê nghệ thuật không những độc đáo mà còn uy nghiêm, bề thế đồng thời có tính chất hưu lý và thực dụng là những nét ưu việt của nghệ thuật trang trí thực dụng dân gian mà nó thu hút được.

       Nghệ thuật trang trí thực dụng cung đình cũng không ra ngoài  qiu luật đó, tuy nhiên trong lĩnh vực này tế nhị hơn và ít rõ rệt về nhiều lẽ. Trước hết là các vật cung tiến từ các địa phương khác nhau những thứ này dù cầu kỳ, tô vẽ cũng vẫn mang những đăc điểm, bản sắc của mình. Thứ hai có những toán thợ chuyên sản xuất phục vụ cho cung đình suốt đời, hoặc cũng có khi phục vụ một thời gian. Mà những người thợ thủ công này, ở mức độ khác nhau vẫn mang trong mình truyền thống thẩm mỹ dân gian ưu tú của mình.

       Tuy nhiên khuynh hướng chính của nó, nghệ thuật trang trí thực dụng cung đình, vẫn là lộng lẫy, hoa mỹ, kém thực dụng. Mỗi sản phẩm ở đây đều nói lên tài hoa tuyệt vời của người thợ, nhưng phía sau nó vẫn ẩn dấu cái gì đó vừa lạnh lùng vừa xa lạ đối với con người.

  III. Mỹ thuật công nghiệp của chủ nghĩa tư bản

    Sản xuất tư bản chủ nghĩa gắn liền với nền sản suất đại công nghiệp và khai thác lợi nhuận tối đa. Những bước phát triển của mỹ thuật công nghiệp tư bản chủ nghĩa đều xuất phát trên cơ sở đó khác với nghệ thuật trang trí thực dụng gắn liền  với sản suất thủ công và chủ yếu trên nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc.

        Với những tiến bộ khoa học kỹ thuật từ máy hơi nước đến điện, kỹ thuật radio … phương pháp sản suất cũng chuyển từ cơ khí hóa sang điện khí hóa và tự động hóa. Việc sản suất hàng hóa cũng từ đơn chiếc sang kiểu dây chuyền vai trò của người thợ thủ công bị gạt bỏ. Trong thời kỳ đầu hàng hóa do nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa sản xuất vẫn mang dấu vết màu sắc của hàng hóa do người thợ thủ công sản xuất, rõ nét nhất là tính ưa trang trí. Nhưng đối với lợi nhuận đó chỉ là một thứ xa hoa, nhất là hàng hóa công nghiệp, điều cốt yếu ở đây là nhiều và rẻ để thu lợi nhuận cao và quay vòng sản suất và tiền vốn nhanh. Những hàng hóa, các cỗ máy trở nên cục cằn thô lỗ khô khan, hoặc có khi diêm dúa theo yêu cầu của lớp người nào đó trong thị trường. Tuy nhiên cũng do lợi nhuận   mà nảy ra cạnh tranh, do hàng hóa ngày càng nhiều cho nên không phải chỉ có rẻ mà còn phải đẹp, thuận tiện trong sử dụng nữa. Do đó khoa học về mỹ thuật công nghiệp ra đời. Nó hình thành từ kinh nghiệm tới lý luận ngày càng rõ nét và sâu sắc và nhất là có căn cứ khoa học.

       Nhất là sau những năm 30 của thế kỷ này, hàng hóa công nghiệp ngày càng kết hợp một cách chặt chẽ và thành công giữa kỹ thuật và mỹ thuật và đưa đến một thể thống nhất hoàn chỉnh. Trang trí, tạo dáng không chỉ là tô điểm tùy tiện như trước đây mà là một cái gì nằm  ngay trong việc khai thác chất liệu, mang trong sản phẩm tính hợp lý, giá trị thẩm mỹ, cáu trúc cao. Sản phẩm đó là một công trình khoa học nghệ thuật đặc biệt, hài hòa nhưng không phải chỉ muốn ngắm nhìn thưởng thức mà còn muốn sờ mó sử dụng vì lẽ nó thuận tiện quá. Tuy vậy mỹ thuật công nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng không thoát ra khỏi chỗ bế tắc của nó.

       Do cạnh tranh nên đẻ ra quảng cáo, tính chất quảng cáo ở đây vượt quá xa tính chất trình bày, trang điểm hợp lý cho hàng hóa, quảng cáo không chỉ phản ánh nội dụng chất lượng hàng hóa, đôi khi mang tính chất giả dối lừa bịp, và các tác hại của tính chất quảng cáo này đã ảnh hưởng cả vào nếp sống đạo đức của con người trong xã hội đó nữa. Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây tính chất bế tắc trong cuộc sống của xã hội tư bản đã này ra một lớp người muốn phản kháng mà bất lực, không giám đấu tranh bèn nổi loạn trong tiểu thuyết , trong nghệ thuật nói chung và tràn lan sang cả lĩnh vực mỹ thuật công nghiệp. Đó là những thị hiếu kỳ cục muốn luôn luôn được kích động, muốn có một cái gì kì quái khác thường, từ quần bó chân voi tới ống loe thùng thỉnh, từ dầy mũi nhọn đến mức phải cắt bớt ngón cho hợp mốt rồi lại mũi bằng, gọt như cả một cái chân bàn. Áo từ ngắn đến mức hở hang lại trở thành lòe xòe lụng thụng. Từ những đồ dùng trang nhã gọn gàng trở thành những thứ cầu kỳ, thậm chí kỳ quặc vô lối.

       Tính chất mỹ thuật công nghiệp tư bản chủ nghĩa có hai mặt, một mặt do tính chất cạnh tranh, sản phẩm tạo ra càng ngày càng rẻ, đẹp, tiện, tốt. Mặt khác do nhu cầu lợi nhuận nó tìm mọi cách tìm tiền , đáp ứng tất cả các loại thị hiếu nếu có lời, do đó mà sản phẩm có một số lại kỳ cục quái dị , hoặc trâng tráo quá đáng không còn gì là tính hợp lý thực dụng và sự hài hòa trang nhã nữa. Và thị hiếu này càng ngày càng lan tràn như một loại dịch bệnh và ảnh hưởng không nhỏ tới ngay cả một số người ở các nước không phải là tư bản. Trên góc độ của những người làm công tác mỹ thuật công nghiệ chân chính, chúng ta kiên quyết đấu tranh với những ảnh hưởng tai hại loại này, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta, nhằm nâng con người lên thành một thể hoàn chỉnh hài hòa nhất.

IV. Mỹ thuật công nghiệp xã hội chủ nghĩa    

         Trong giai đoạn đầu, dù là ở nước nào thường là tiếp thụ ý nguyên mẫu sản phẩm của tư bản chủ nghĩa để lại. Lúc bấy giờ chưa có khả năng làm khác. Nhưng trên cơ sở củng cố, nhà nước vô sản phải tự lập cánh sinh, phải tiết kiệm để đấu tranh tồn tại và phát triển do đó khuynh hướng thực dụng chủ nghĩa là khuynh hướng chủ đạo. Sản phẩm thường là thô kệch về kỹ thuật và khô khan về thẩm mỹ.

        Nhưng trong những năm gần đây nhất là từ những năm 60 vừa qua là giai đoạn quan trọng trong mỹ thuật công nghiệp XHCN. Nhu cầu tối thiểu về đời sống vật chất đã thỏa mãn. Nhu cầu về thẩm mỹ ngày càng trở nên thúc bách. Mặt khác khoa học kỹ thuật cũng đang trên đà phát triển với một tốc độ ghê gớm : hàng loạt ngành kỹ thuật, khoa học mới ra đời, hàng trăm hàng ngàn chất liệu mới ra đời …. Tất cả những cái đó đã tạo điều kiện cho mỹ thuật công nghiệp phát triển. Hàng hóa bắt đầu gọn nhẹ, đẹp, thuận tiện, bao bì đóng gói cũng được chú ý đúng mức.

        Mục đích của mỹ thuật công nghiệp XHCN là nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của con người, tạo tiện nghi thỏa mái cho con người trong môi trường làm việc và sinh hoạt. mỹ thuật công nghiệp XHCN có khuynh hướng rõ rệt không phải nó thỏa mãn bất kì loại thị hiếu nào. Những thị hiếu trái với đường lối giáo dục tinh thần tập thể, cầu kỳ lập dị ..v.v. đều bị gạt ra ngoài.

      Tuy nhiên những khuynh hướng đó vẫn lác đác xuất hiện, đặc biệt là Đông Âu thì sự sùng bái hàng hóa của chủ nghĩa tư bản trở thành một thứ mốt của một số đông thanh niên. Trong đó ta thấy có hai vấn đề cần chú ý là yêu cầu đổi mới hàng hóa, yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm là yêu cầu chính đáng. Nhưng đồng thời trong đó cúng có những đòi hỏi của loại thị hiếu kỳ cục, giật gân lập dị mà chúng ta có trách nhiệm loại trừ.

V.  Mỹ thuật công nghiệp của nước ta :

       Nước ta là nước có nền văn hóa lâu đời, có truyền thống rực rỡ, độc đáo. Thủ công mỹ nghệ cũng là một trong những dạng văn hóa lâu đời và độc đáo ấy. Về mặt này chúng ta có những thuận lợi tuyệt đối. Tuy nhiên trong nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, bị bón phong kiến ngoại tộc xâm lược thống trị, bị bọn thực dân phương tây đô hộ, truyền thống ấy bị phá hủy nặng nề cả hai mặt truyền thống thẩm mỹ cũng như tổ chức sản suất khiến cho nền sản xuất không thể phát triển lên được. Chúng ta cũng chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tức là chưa qua nền sản xuất đại công nghiệp. Do đó khi bước vào xây dựng một nền mỹ thuật công nghiệp cho chính mình chúng ta gặp rất nhiều khó khăn.

      Chúng ta đang gặp những khuynh hướng ấu trĩ của bước đầu : bắt chước , bắt chước không trọn lọc một cách rập khuôn một cách máy móc ngây ngô. Trình đọ kỹ thuật sản xuất non kém của ta, sự tách rời sản xuất khỏi yêu cầu thẩm mỹ, kỹ sư chế tạo sản phẩm thì không có trình độ thẩm mỹ, họa sĩ thì không biết về mỹ thuật, cái đẹp chỉ thực hiện trên giấy ( vì khi dựa vào sản phẩm thì thiếu cơ sở khoa học , về yêu cầu kỹ thuật, về giá thành , về giá trị sử dụng ), tất cả những cái đó là những khó khăn hiện nay và đồng thời đó cũng là những cái tất yếu của giai đoạn đầu. Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất , song song với sự phát triển của công nghiệp nước nhà nó sẽ được khắc phục dần. Nói như vậy là cũng có căn cứ :

-          Hiện nay các ngành sản xuất cũng quan tâm nhiều tới mỹ thuật công nghiệp mặc dầu còn lúng túng và hiểu chưa thật đúng.

-          Đường lối phát triển công nghiệp của ta đảm bảo cho mỹ thuật công nghiệp phát triển.

-          Chúng ta có truyền thống về mỹ thuật trang trí thực dụng, có đường lối về tư tưởng văn hóa đúng đảm bảo cho mỹ thuật công nghiệp đi đúng hướng và vững chắc.

-           Chúng ta đang đào luyện  nhiều lớp cán bộ yêu ngành chuyên môn này ( mặc dù trình độ còn non yếu ) , nhưng qua phát triển công nghiệp đã có phần đóng góp của mình.

-          Trong thực tế những khuynh hướng ấu trĩ như : tô điểm, trang trí thêm cho sản phẩm, diêm dúa, khuynh hướng bắt trước, ( không hiểu đối tượng ) khuynh hướng dùng sản phẩm thủ công mỹ nghệ để tác phẩm tạo hình thao túng : khuynh hướng mỹ thuật mà thiếu thực dụng ..v..v. đang bước đầu được khắc phục. Trong tương lai chắc chắn chúng ta sẽ có một nền mỹ thuật công nghiệp việt nam hoàn chỉnh.

2. Nghệ thuật trang trí thực dụng trong đời sống

Hiện nay có nhiều cách phân chia thể loại nghệ thuật, nhưng chưa có cách nào phù hợp hoàn toàn cho tất cả. Điều đó cũng là tất nhiên về sự phát triển của mỗi nước đang ở những thang bậc khác nhau mà có khi khuynh hướng cũng khác nhau nữa. Trong đó cũng có những khuynh hướng được thừa nhận nhiều hơn cả là coi nghệ thuật trang trí thực dụng trong đó có cả trang trí kiến trúc và tạo dáng công nghiệp gộp vào làm một , và gọi là mỹ thuật công nghiệp chia ngành theo chất liệu, có nước lại chia theo thể loại nghệ thuật. Điều này phụ thuộc vào cách quản lý thế nào cho thuận tiện nhất cả về học thuật cũng như về cơ sở vật chất kỹ thuật, không phải là cái gì cứng nhắc không thay đổi được.

  Đồng thời với việc tổ chức sắp xếp lại trật tự các loại ngành nghề, sự phát triển của mỹ thuật công nghiệp lại thường xuyên đòi hỏi phải tách một số bộ phận nghiên cứu trở thành ngành lớn hoàn chỉnh. Ví dụ : ĐI-DAI

-          Tức là tạo dáng công nghiệp, Ê-gô-nô-mic

-          Nghiên cứu tương quan giữa người và môi trường lao động, công cụ lao động

Trước đây chỉ là một bộ phận nhỏ trong ngành mỹ thuật công nghiệp, nagyf nay nó trở thành một ngành nghiên cứu lớn và phức tạp.

Trong mỹ thuật công nghiệp người ta tạm chia ra làm 3 khu vực nghiên cứu: Mỹ thuật công nghiệp, mỹ nghệ truyền thống, trang trí kiến trúc.

Mỹ nghệ truyền thống gồm các ngành như: Gốm , sơn, đan,mây tre, thuê, thổ cẩm,kim hoàn , trạm ngà,, khảm, tượng gỗ nhỏ…Mỹ thuật công nghiệp bao gồm các ngành như sứ thủy tinh, nhưa, sắt uốn, tạo dáng công nghiệp đồ chơi… trang  trí, kiến trúc : trang trí nội ngoại thất hội họa đồ sộ điêu khắc trang trí kiến trúc.

 Phạm vi hoạt động của mỹ thuật công nghiệp rất rộng và quan hệ đến toàn bộ môi trường sinh hoạt của con người . Cứ xem qua các ngành nghề cụ thể mà nó nghiên cứu thì ta cũng thấy rõ và tất nhiên các ngành trên chỉ là ngành tiêu biểu.

Nhiệm vụ của mỹ thuật coong nghiệp rất nặng nề : cộng tác với các ngành kỹ thuật khác để làm đẹp cuộc sống tạo tiện nghi thỏa mái cho con người trong môi trường sinh hoạt, làm việc, tạo điều kiện nâng cao năng xuất lao động, nâng cao dời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc biệt khi đời sống vật chất tương đối thảo mãn các nhu cầu tối thiểu của con người thì vai trò của nó còn lớn lao hơn nữa. Khi khoa học kỹ thuật phát triển cao cho phép kỹ thuật và nghệ thuật hòa làm một và đưa tới đỉn cao của sự hài hòa trong mọi lĩnh vực trong đời sống , khắc phục hoàn toàn hậu quả bị tách biệt giữa lâu đài văn hóa nghệ thuật với lĩnh vực sinh hoạt, lao động và các hoạt động khác do các chế độ có giai cấp tạo ra trước đây.

3. Những yêu cầu đối với người làm công tác mỹ thuật công nghiệp :

-          Trong giai đoạn hiện nay thì tiêu chuẩn đầu tiên của người làm công tác mỹ thuật công nghiệp là tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Chỉ có trên cơ sở đó hoạt động mỹ thuật công nghiệp của anh mới có phương hướng đúng đắn, mới có thể khắc phục được những khó khăn trước mắt và có thể còn lâu dài trong hoạt động của mình. Nếu không thì sé có hai cách:

 Một là, việc học tập nghiên cứu sẽ không có kết quả hoặc Hai là tài năng sé đi vào con đường tiền tài và hư vinh cả hai con đường đó đều trái với đạo đức của những người làm nghệ thuật và khoa học chân chính.

-          Người làm công tác mỹ thuật công nghiệp cần phải có tinh thần vượt khó khăn  nhất là trong hoàn cảnh như nước ta, thiếu nó không thể làm được bất cứ cái gì bời vì chúng ta hiện thiếu thốn đủ mọi thứ từ nguyên vật liệu, chỗ làm viêc, tài nghuyên nghiên cứu cho nên đó cũng là điều kiện tiên quyết.

-          Đã gọi là nghệ thuật là phải sáng tạo, không có sáng tạo thì chỉ lập lại , sao chép của người khác và đó lại là điều tối kị cho nên phải học tập để nắm được phương pháp nghiên cứu và từ đó mà tìm tòi sáng tạo.

-           Tạo ra một sản phẩm mới như bộ ấm chén cũng là khó, khó ở chỗ mới mà đẹp, lại dân tộc, khó ở chỗ thực dụng hơn những bộ đã có, giá thành lại rẻ. một bộ ấm chén đã như vậy huống hồ sáng tác ra một kiểu ô tô mới một cỗ máy bộ bạn ghế …. Trưng bầy trong một phòng triển lãm , xây dựng một tượng đài cho một công viên … Tất cả đều đòi phải lao động cần cù, không biết mệt mỏi và chỉ có trên cơ sở đó mới có thể sáng tạo được.

-          Về thẩm mỹ phải phấn đấu rèn luyện thường xuyên để có thể đạt được :

1/ Cảm quan về màu sắc phải trong sáng tươi tắn, hoặc êm dịu hài hòa ( nói chung phải lành mạnh tránh gay gắt hoặc u trầm bệnh hoạn )

2/ Bố cục phải nhịp nhàng gọn gàng hoàn chỉnh  ( tránh dở dang luộm thuộm tùy tiện)

3/ Kỹ năng thực hành phải điêu luyện vững vàng ( tránh thô kệch vụng về )

Dù ở bất cứ ngành nào nghề nào cũng đòi hỏi như vậy cả. Là một trường tạo ra cái đẹp cho cuộc sống nó đòi hỏi con người phải phấn đấu để có tâm hồn trong sáng, phải có tình yêu thương anh em đồng chí, và con người. Không có yêu thương mà làm đẹp cho đời thì chỉ là giả dối, nghệ thuật đó sẽ lạnh lùng khô cứng, có chăng chỉ thỏa mãn cho một số người vị kỉ nào đó mà thôi .

Chương II

TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CỔ VIỆT NAM ( CÁC LOẠI HOA VĂN VÀ TRANG TRÍ KỈ HÀ )

Nghệ thuật trang trí thực dụng Việt Nam là một hình nghệ thuật có truyền thống. Không những nó chỉ có truyền thống vì là một trong những dạng văn hóa lâu đời ở nước ta và so với thế giới, mà còn vì vẻ đẹp độc đáo của nó nữa. Không kể những thành tựu nghệ thuật trang trí thực dụng của thời kì đồ đá mới, Tuy ý thức thẩm mỹ được thể hiện trên đồ trang sức, đồ dùng không phải là không đáng ngạc nhiên. Mà chúng ta chỉ cần xem xét từ thời kỳ đồng thau trở đi cũng đủ thấy rực rỡ lắm rồi. Hơn nữa ở đây ta chỉ xét về mặt trang trí của chúng để nghiên cứu học tập mà thôi cho nên phạm lại càng hẹp nữa. Tuy nhiên nghệ thuật trang trí cổ Việt Nam bao giờ cũng gắn với thực dụng dù đó là đồ trang sức, đồ dùng, vũ khí hay nhạc khí đi nữa. Cho nên ngay bài học đầu tiên khi nghiên cứu mà ta gặp chính là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn, hài hòa giữa trang trí và thực dụng trong nghệ thuật trang trí và thực dụng và không thể có trang trí ngoài thực dụng trong nghệ thuật trang trí thực dụng cổ Việt Nam ( dĩ nhiên ở đây ta phải hiểu chữ thực dụng vượt ra ngoài ý nghĩa tầm thường, tối thiểu của nó ). Khi ta chỉ nghiên cứu về mặt trang trí thì có thể tạm tách ra được, những vẫn phải coi đó là tạm thời, phiến diện. Bởi vì hình ảnh, đường nét trang trí cụ thể ấy là dùng cho một đò vật cụ thể, chứ không phải cho bất kỳ vật nào khác, nó ăn ý với nhau từ cách kết cấu, sử dụng chất liệu cho tới ý nghĩa, hình dáng đường nét trang trí của đồ vật.

   Ở thời kỳ đồng thau, nghệ thuật trang trí chủ yếu là trên trống đồng, gương soi, vũ khí rìu đồng …. ( còn trên các chất liệu khác có lẽ do thời gian hủy hoại mà không còn dấu vết gì chăng, ngoài một ít mảnh gốm). Nghệ thuật trang trí ở đây có một hình thức độc đáo không gì có thể so sánh được. Tất cả đều khắc nối bằng những nét tinh vi, những gách ngắn, thẳng và phối hợp với nhau bằng cách đối chiếu bằng những chấm li ti, bằng những hình tròn to nhỏ khác nhau, những đường tròn đồng tâm. Chỉ cần như vậy thôi mà người xưa có thể miêu tả không những rất chân thực mà còn mang tính cách điệu, tượng trưng rất cao những hình ảnh sinh hoạt của thời đại mình. Từ người đến chim thú, từ đàn ông đến đàn bà từ thủ lĩnh đến chiến sĩ, từ cảnh săn bắn giã gạo đến vui chơi, hội hè từ nhà cửa đến thuyền bè , chiêng trống, từ sự phân công lao động đến tín ngưỡng của bộ lạc, từ hình thức ăn mặc đến trang bị vũ khí …. Tất cả đều chỉ trên một cái trống và chỉ chủ yếu là tính khái quát những đặc trưng của sự vật, không những rất tổng hợp mà lại cũng rất cụ thể dù chỉ là những nét đơn giản. Mặt khác nhạc tính hay nhịp điệu cũng được sắp xếp phối hợp một chách kỳ diệu. Những vành trang trí với những đề tài khác nhau : mặt trời , người chim thú, văn triện , xen kẽ vào nhau, lớp lớp xoay tròn giống như điệu múa quanh đèn kéo quân vậy. Tính chất ấy không những chỉ phối hợp giữa vành này với vành kia, giữa lớp này với lớp khác, mà ngay trên một đoạn một vật cũng thể hiện rất rõ.

        Nghệ thuật trống đồng của ta làm cho thế giới phải kinh ngạc hàng bao  nhiêu năm  nay. Tuy nhiên nghệ thuật thời kỳ đồng thau không phải chỉ có trống đồng mà còn có nhiều thứ như đã kể trên. Thạp đồng gương soi, vũ khí, rìu…. Trên mỗi vật như vậy cũng đều có trang trí công phu, tài nghệ. Về tính chất trang trí thì cũng đều có sắc thái chung như trống đồng. Đây là thời kỳ văn hóa rực rỡ nhất xưa kia của nước ta. Về sau, trải qua một ngàn năm bắc thuộc nghệ thuật độc đáo của ta bị dìm đi và mãi đến thời kỳ tự chủ và đặc biệt thời Lý nghệ thuật ấy mới được nảy nở trở lại được phát triển lên thành nền nghệ thuật cổ điển vững vàng với trang trí “ con rồng thời lý “ mà chúng ta thường tự hào.

       Một trong những đặc điểm của thời Lý là tính chất đồ sộ. nhưng di tích còn lại hiện nay như đền chùa giạm, chùa phật tích, tháp chương sơn, tượng quan âm,..vv..vđều có những quy mô mà trước và về sau chua từng có. Đồng thời với tính chất quy mô là chất liệu chủ yếu bằng đá , trong kiến trúc , bằng gốm trong trang trí thực dụng và có lẽ một số chất liệu khác mà do sức phá hủy của khí hậu và thời gian không còn nữa.

      Nhưng mặc dầu với những di tích ít ỏi còn lại cũng đã đủ chứng minh nền nghệ thuật trang trí thực dụng của thời Lý rồi. Đặc biệt là những họa tiết trang trí bằng đá, những phù điêu, những tượng trang trí. Đề tài phần lớn là rồng , phượng , nhạc công , vũ nữ,sư tử , và một đề tài được phổ biến nữa là hoa sen. Tính chất đặc biewetj nhất trong trang trí là con rồng giun. Thân khá dài và được uốn lượn nhiều lần lặp đi lặp lại theo hình chữ s, đầu to , càng về phía đuôi càng nhỏ dần. Do tính chất uốn lượn ấy mà nó có thể sử dụng trong nhiều hình bố cục khác nhau. Chữ nhật, tròn, lá đề đều được cả. Ở đây cũng phải nói đến một điều nữa là thân rồng tròn lẳn, chắc từ đầu chí cuối nổi rõ không bị che khuất bởi như mấy con rồng thời khác, cho nên những đường uốn lượn của thân rồng là nét tạo hình chính xây dựng thành những điệp khúc uyển chuyển, vô tận. Cách trang trí như vậy cũng ảnh hưởng sang cả đề tài tang trí phượng . Trên một phiến đá là lan can ở các bậc lên xuống của một ngôi chùa thời lý người ta thấy đuôi phượng cũng được uốn thành hình chữ s lặp đi lặp lại như vậy. Hiện nay còn một hòn tảng rất đẹp kê chân một chùa phật tích được trang trí bằng những cánh sen nở xòe đều đặn theo hình ngôi sao nhiều cánh, xung quanh bệ đá trang trí cảnh nhạc công vũ nữ cá múa rất tinh vi, Tiêu biểu mà lại cách điệu cao.

     Nghệ thuật trang trí thời Lý đã đạt tới trình độ hoàn chỉnh từ cách sử dụng chất liệu tới phong cách trang trí độc đáo, kỹ thuật tinh xảo. Tài nghệ ấy không những thể hiện chỉ ở những công trình kiến trúc đồ sộ ,các pho tượng lớn mà ngay cả trên những chi tiết nhỏ cũng đều hoàn chỉnh, tài  nghệ ấy biểu hiện ở chỗ biết sử dụng đúng chỗ các hình thức trang trí, nơi thì thoáng đạt vẻ giản dị mà cao siêu như tượng chùa phật tích, nơi thì gọt giũa tinh vi mà vẫn nhịp nhàng, uyển chuyển như những bức chạm quanh hòn tảng với trang trí  nhạc công vũ nữ , như viên đá hình chữ đề với trang trí hình rồng uốn khúc.

        Nghệ thuật trang trí thời Lý cũng còn nổi tiếng với các đồ dùng bằng gốm với những hình trang trí đều rõ, voi, chim,sen cúc. Trang trí rất thoáng uyển chuyển và nhã với các loại men ngà, nâu , ngọc.

       Nghệ thuật thời kỳ đồng thau hay văn hóa đông sơn và nghệ thuật thời lý là hai giai đoạn đặc sắc trong nghệ thuật cổ Việt Nam. Thời trần vẫn là thời kỳ tiếp tục của thời Lý và di tích còn lại cũng ít mặc dầu nghệ thuật thời trần có xu hướng hiện thực hơn, ít chau chuất phần nào có thể khỏe và thỏa mái hơn ( hổ đá trong  làng Trần thủ Độ, tháp có vẽ hình người đấu võ….)

      Đến thời Lê và đặc biệt là cuối Lê . Phong cách nghệ thuật trang trí không còn công thức nhất quán như các thời kỳ trên  nữa mà phát triển phong phú đa dạng và đứng về góc độ nghiên cứu mà nói thì hết sức phức tạp, các luồng nghệ thuật chính cống dân gian , du nhập đan cài vào nhau , sinh sôi nảy nở mỗi nơi mỗi vẻ và hết sức thú vị ( chạm gỗ chùa tây Đằng, chạm đá chùa Bút Tháp, hoa văn trên bia ở Văn Miếu, phỗng thờ ). Còn đến thời Nguyễn và nhất là về sau nghệ thuật mang tính chất chiết trung pha tạp, cầu kỳ lố lăng tiêu biểu cho sự thái hóa đến cùng cực của chế độ phong kiến suy vong.

        Ở đây chúng ta chỉ lược qua một số nét tiêu biểu trong sự phát triển của nghệ thuật trang trí, thực dụng nhằm biết được đôi điều khái quát để từ đấy khi đi vào những hình thức trang trí cụ thể chúng ta đỡ bị bối rối trước thiên hình vạn trạng của nó. Còn  môn lịch sử mỹ thuật sẽ hướng dẫn chúng ta đi sâu vào lịch sử cụ thể và sẽ cung cấp nhiều kiến thức cho chúng ta về mặt này.

        Ngoài nghệ thuật trang trí thực dụng cung đình, hay do nhà nước phong kiến bảo trợ , chúng ta còn có nghệ thuật trang trí dân gian. Từ vải ,lụa, thổ cẩm, đồ gốm, sành , đất nung, cho đến chạm ngà chạm gỗ, sơn  mây tre đan , từ cung đình cho đến dân gian trang trí hình thức hoa văn, kỳ hà là rất phổ biến .Nó được nghiên cứu quan sát cách điệu, trau truốt hình lá, người vật trong thiên nhiên  mà ra, mà chủ yếu là hoa lá.Ngoài ra người ta còn sử dụng cả những vật linh như : rồng phượng , lân rùa, các văn triện, đường hình ,kỷ hà nó được sự dụng nhiều trong trang trí kiến trúc như đình chùa, đền miếu , nhà cửa , bia tháp cho tới các loại đồ dùng với các chất liệu khác nhau.Đó là một hình thức nghệ thuật tiêu biểu , độc đáo và có khả năng biểu hiện thẩm mỹ cao của dân tộc ta.

       Nhìn toàn bộ chúng ta có thể lược ra những đặc điểm tính chất tiêu biểu sau :

               1 / Tính cách điệu cao, thanh thoát nhưng lại rất chân thực, hữu lý , hữu tình.

               2/ Phong cách thì uyển chuyển, nhịp nhàng, tự  nhiên, thỏa mái không gò gẫm khô khan.

               3/ Hình thức thì cân đối, mảng nét phân minh, nhưng không lộ liễu, thuần thúy khoe khoang.

               4/ Màu sắc thì đậm đà tế nhị hoặc dung dị xâu kín , hoặc rạng rỡ hận hoan. Dù đơn giản dù phúc tạp tinh vi những vẫn không cầu kỳ uốn éo. Đối trọi  mạnh bạo mà không gắt. Toàn bộ đều phục tùng tính hài hòa nhất quán.

                5/ Mang rõ nét độc đáo dân tộc, dù có vay mượn đề tài, hoặc hình thức thì cũng đều việt hóa một cách tài tình.

       Là những người làm công tác kỹ thuật công nghiệp, chúng ta cần phải đi sâu nghiên cứu cấu trúc trong phương pháp nhận sét sự vật và cách điệu hóa của cổ nhân, khái quát các biểu thức của chúng, từ đấy mà rút ra kết luận để học tập kế thừa và phát huy những ưu điểm ấy vào trong các sáng tác, sản phẩm của mình khiến chúng vừa hiện đại lại vừa mang được tính dân tộc sâu sắc.

Mời các bạn xem bài giáo trình trang trí cơ bản đầy đủ tại đây

0976984279