Khái quát về tranh Hàng Trống

Tranh Hàng Trống có nguồn gốc từ kinh đô Thăng Long, mang trong mình bản sắc và thẩm mỹ riêng của người thành thị, phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Những người làm tranh thường là tầng lớp trí thức, nghệ nhân; tập trung chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống… của Hà Nội xưa. Tranh Hàng Trống có nhiều thể loại như tranh truyện, thế sự, vàng mã… trong đó có hai dòng tranh chính là tranh thờ và tranh Tết.

* CÁC DÒNG TRANH:

1. Tranh Tết:

Hình tượng nghệ thuật và chữ Hán trong tranh Tết nói lên những ước vọng của con người. Qua đó, truyền thống treo tranh Hàng Trống để trang trí nhà cửa mỗi dịp đầu năm mới thể hiện ý nghĩa chúc tụng và cầu mong những điều tốt lành. Không chỉ là mong muốn về một cuộc sống ấm no, đủ đầy, thú chơi tranh Tết còn thể hiện ước mơ về công danh, phú quý, trường thọ… của giới thị dân xưa. Tố nữ chính là bộ tranh Tết đầu tiên tôi được tiếp cận và cảm thấy quý trọng những ý nghĩa sâu xa mà gần gũi của nó. Không chỉ đơn giản là bốn cô gái với nhạc cụ trên tay, bộ tranh còn gửi tới người thưởng thức những thông điệp đặc biệt khác. Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc Khuê, bộ Tố nữ xuất phát từ tục thờ cúng của người Việt như hát cửa đình để dâng những âm thanh đẹp đẽ lên thần thánh. Còn nghệ nhân Lê Đình Nghiên lại nói về bộ Tố nữ một cách giản dị, ấm áp: những âm thanh không chỉ là tiếng đàn, tiếng phách mà còn là tiếng cười con trẻ, tiếng lách cách mâm cơm, tiếng vợ chồng trò chuyện vui vẻ trong gia đình. Bộ tranh là lời chúc Tết các nghệ nhân muốn gửi tới mọi nhà: chúc cho năm mới nhà ai cũng sẽ tràn đầy “tiếng vui”.

hang trong 1

2. Tranh thờ:

Tranh Hàng Trống có số lượng lớn là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng phục vụ đền phủ, đặc biệt trong Đạo Mẫu. Tôn giáo và tín ngưỡng với tôi khi ấy là một điều gì khó hiểu. Khi được nghe bác Phan Ngọc Khuê nói về ý nghĩa của bức Ông Hoàng cưỡi lốt, tôi mới nhận ra: nước mang đến mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ cho người dân, nhưng nước cũng chính là hiểm họa thiên tai kéo theo sự mất mát, tan hoang. Hình ảnh những đợt sóng cuồn cuộn khi nước lũ tràn về giống như những con rắn khổng lồ (lốt: con rắn ba đầu chín đuôi) đang phẫn nộ. Ông Hoàng – vị nhân thần – chính là mong ước của người dân chế ngự được thiên nhiên, để có được sự an lành, no đủ. Hiểu được điều đó, tôi cảm thấy tranh thờ không còn xa xôi mà trở nên thật gần gũi bởi những ước mong tốt đẹp của các cụ xưa vẫn còn nguyên giá trị với cuộc sống người Việt ở thời hiện tại.

tranh hang trong 2

3. Tranh thế sự:

Tranh thế sự không có số lượng lớn như tranh thờ, tranh Tết nhưng dòng tranh này lại chứa đựng nhiều điều thú vị về cuộc sống thường ngày của người Việt Nam xưa. Ví dụ như bức Chợ quê, không khí ồn ào, náo nhiệt của phiên chợ được tái hiện một cách chân thực: đám trong quán, đám ngoài sân, người ăn mày, kẻ móc túi, hàng cá, hàng thịt, nơi khách mua túm tụm quây quần, chỗ thì ế ẩm khoanh tay… Các nhân vật được khắc họa với những nét tính cách gần gũi, khác với những hình tượng mang tính ước lệ của các loại tranh thờ và tranh chúc tụng truyền thống. Về thẩm mỹ, bức Chợ quê có sự tương phản giữa các chi tiết dày đặc về người với mảng lớn đơn giản của mái chợ. Chỉ bằng những nét vẽ mộc mạc, người nghệ nhân đã diễn tả thành công không khí của chợ quê thân quen với nhiều thế hệ của người Việt Nam xưa và nay.

* CÁCH IN ẤN VÀ VẼ:

Điều đặc biệt của tranh Hàng Trống là sử dụng kỹ thuật nửa in, nửa vẽ. Mỗi bức tranh chỉ có duy nhất một ván khắc, tạo thành xương cốt của bức tranh. Sau khi đã có được bản in nét đen hoàn chỉnh thì người vẽ dùng bút lông chấm màu để tô lên từng mảng màu đậm nhạt, tùy theo bố cục và đường nét.

Cách tô màu của tranh Hàng Trống cũng hết sức đặc biệt. Một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước, khiến cho nét bút khi đặt xuống mặt giấy đã có hai sắc độ đậm nhạt khác nhau. Đó chính là kỹ thuật “vờn màu” (thuật nữa dân gian còn gọi là “cản màu”). Trong nghệ thuật dân gian của chúng ta, tranh Hàng Trống và nghệ thuật điêu khắc đình làng có một điểm chung rất rõ nét. Nếu như điêu khắc dùng chạm nổi và xoáy chìm để tạo chiều sâu, thì tranh Hàng Trống bằng kỹ thuật “vờn màu” đã gợi được độ nông sâu của hình khối. Điều đó khiến cho tranh Hàng Trống kiêu hãnh mang trong mình sự khác biệt khó có thể sao chép.

* GIẤY IN VÀ MÀU SẮC:

Tranh Hàng Trống thường được vẽ trên giấy dó và giấy xuyến chỉ. Giấy dó là loại giấy được sản xuất từ vỏ những cây dó (như dó giấy, dó liệt…) theo quy trình thủ công của một số làng nghề ở Việt Nam. Giấy dó được dùng cho vẽ tranh trong mỹ thuật dân gian Việt Nam, hay lưu giữ các tài liệu, có ưu điểm nổi bật nhất là độ bền theo thời gian. Xuyến là loại lụa mỏng, mịn màng, chỉ là giấy. Xuyến chỉ là loại giấy mỏng, mịn trắng như lụa của Trung Quốc sản xuất.

Màu sắc sử dụng trong tranh Hàng Trống là phẩm màu tự nhiên. Màu sắc của tranh tạo được ấn tượng vô cùng phong phú và rực rỡ khi sử dụng 6 màu chính: xanh da trời, hồng, đỏ điều, cam, vàng, xanh lá cây với các sắc độ khác nhau. Các màu này được vận dụng, kết hợp tài tình với hệ thống nét đen vẽ từ mực Tàu khiến cho các tác phẩm tranh Hàng Trống vô cùng rực rỡ, cuốn hút nhưng cũng không kém phần tao nhã, tinh tế. Ngoài ra, những chi tiết cần được nhấn mạnh trong tranh thờ còn được điểm thêm bằng ngân nhũ (bạc), kim nhũ (vàng) và phấn trắng (được tán mịn từ thạch cao).

tranh hang trong 3

Tranh Hàng Trống mỗi ngày lại mở rộng thêm cánh cửa của những giá trị dân gian đậm chất Việt Nam. Đó chính là những hình ảnh, câu chuyện thể hiện mơ ước về cuộc sống ấm no, an bình của cha ông.

tranh hang trong 4

Tranh thờ
Bộ Hương chủ
Tranh Hương chủ (giữa) và câu đối Phúc – Thọ (hai bên)

tranh hang trong 5

Tranh Hương chủ mô tả đầy đủ khung cảnh bàn thờ tổ tiên trong gia đình. Đây là món quà xuân của người nghệ sĩ dân gian tặng cho người nghèo qua ý nghĩa gửi gắm trong bức tranh. Người nghèo có thể treo, dán bức tranh chủ này trên vách đất, tường vôi đơn sơ của căn nhà. Khung cảnh đầy đủ do tranh gợi tả làm yên lòng con cháu khi thắp nén hương tưởng nhớ đến cha ông trong gia cảnh khốn khó.

Hai bức câu đối trang trí hai bên tranh chủ được cách điệu từ hai chữ Phúc – Thọ. Trong lòng chữ Phúc và chữ Thọ có hình tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng.

tranh hang trong 6
Tranh thờ
Tứ phủ đại công đồng

Đây là bức tranh thờ chung tất cả các vị Thánh Tứ phủ. Tứ phủ bao gồm Thiên phủ (trời), Địa phủ (đất), Thủy phủ (nước) và Nhạc phủ (rừng). Thứ tự của các hàng thờ tự từ trên xuống là: Phật Bà – Vua Cha – Thánh Mẫu – Quan lớn – Chầu Bà – Ông Hoàng – Thánh Cô, Thánh Cậu.

tranh hang trong 7
Tranh thờ
Ông Hoàng cưỡi lốt

Con lốt là con rắn ba đầu chín đuôi, biểu trưng cho sức mạnh và sự biến đổi của dòng nước. Ông Hoàng cưỡi trên lưng con lốt thể hiện ước mơ chế ngự thiên tai, lũ lụt của con người.

tranh hang trong 8
Tranh thờ
Thánh Mẫu Thượng Ngàn

Thánh Mẫu Thượng Ngàn là vị Thánh Mẫu cai quản Nhạc phủ (miền rừng núi), làm chủ mọi miền núi đồi, sông suối, rừng cây cùng muông thú trong phạm vi sâu thẳm và bao la của đại ngàn.

tranh hang trong 9
Tranh thờ
Thánh Mẫu Cửu Trùng

Ngài là vị Thánh mẫu ngự trên chín tầng mây cao, cai quản chốn tiên cung thượng giới. 12 tiên nữ tượng trưng cho 12 loại hoa, biểu thị cho 12 tháng. Đó là một chu kỳ tuần hoàn bất diệt của thời gian. Hình tượng 12 cô gái thường được dùng trong các tranh vẽ nữ thần, có đặc trưng thể hiện ý nghĩa sinh sôi, nảy nở, tươi đẹp và hạnh phúc.

tranh hang trong 10
Tranh Tết
Chim công

Bức tranh có hai hình tượng kết hợp là chim công và hoa mẫu đơn. “Chim công” đồng âm với chữ “công danh”. Hoa mẫu đơn là loại hoa màu đỏ, có nhiều cánh hoa lan tỏa ra rộng lớn, được gọi là hoa phú quý. Bức tranh có hàm ý chúc tụng: đạt được công danh – phú quý.

tranh hang trong 11
Tranh Tết
Cá chép trông trăng

Cá chép theo văn hóa dân gian là biểu tượng cho nghị lực vươn lên trong cuộc sống, là ước nguyện trong chốn quan trường với mong muốn “vượt vũ môn hóa rồng”. Trăng có hình tròn, là biểu tượng của sự hoàn mỹ, viên mãn. Ngoài ra, con cá trong tiếng Hán đọc là “ngư”, đồng âm với chữ “dư” trong “dư thừa”; là biểu tượng cho mong muốn dư thừa của cải, tuổi thọ.

tranh hang trong 12
Tranh thế sự
Canh nông vi bản

Bức tranh đồng hiện các công việc trong một vụ mùa: cày bừa, tát nước, gieo mạ, gặt lúa, xay lúa, giã gạo… Những sinh hoạt đó trong thực tế kéo dài từ bốn đến năm tháng, được tái hiện như một “cuốn phim” về sinh hoạt đồng áng mộc mạc và sống động.

tranh hang trong 13
Tranh thế sự
Múa lân

Đoàn múa lân theo tiếng trống thôi thúc, vui nhộn, xung quanh là người lớn, trẻ nhỏ, tay cầm đèn lồng, đèn ông sao, đèn cá chép… Tất cả gợi nên được không khí rộn ràng, vui tươi của Tết Trung thu cổ truyền.

tranh hang trong 14
Tranh thế sự
Chợ quê

Bức tranh tái hiện không khí ồn ào, náo nhiệt của một phiên chợ quê: đám trong quán, đám ngoài sân, người ăn mày, kẻ móc túi, đám cờ gian bạc lậu, kẻ đang trù trừ muốn thử vận đen đỏ, hàng cá, hàng thịt, hàng rau… nơi khách mua túm tụm quây quần, chen lấn, chỗ thì ế ẩm khoanh tay…

- Trịnh Thu Trang -

>>> Tranh dân gian Đông Hồ

>>> Quy trình làm tranh Đông Hồ

>>> Sách Thuyết âm dương ngũ hành và trang dân gian Việt Nam

0976984729