Mở cửa: Sáng: 8h - 11h30 - Chiều: 13h30 - 17h - Tối: 18h30 - 21h30

Tag: họa phẩm

Họa phẩm Cái chết của Acteon của Titian

Bức tranh này vẽ trên nền vải hơi thô. Tác phẩm tôn giáo với quy mô lớn, chủ đề cổ kính vẽ trên vải xuất hiện sớm ở Venise một phần bởi vì không khí ẩm và mặn không thích hợp cho gỗ, điêu. Người thời bấy giờ còn cho rằng vải có thể cuốn mang đi dễ dàng. Titian dùng vải đa dạng về kích cỡ trong suốt cuộc đời sự nghiệp lâu dài của ông. Ông cũng thay đổi sở thích từ thứ hàng mịn tới thô.

HP “Ad Parnassum” 1932 của Paul Klee

Ad Parnassum là một bức tranh khổ lớn vào thời Klee vẽ, trước năm 1937, theo nhiều cách, nó gồm thâu những thành tựu trước đó của tác giả. Màu sắc sắp xếp sao cho “di chuyển” từ tối đến sáng, giữa cam, xanh của hai lần sơn lót khác nhau. Ba phần tử chính trong tranh, lưới màu xám được sơn trước, lượt sơn lót phủ lên nhau thành miếng chắp, đường kẻ sơn đi sau chót.

Họa phẩm Hái táo ở Eragny-sur-Epte (1888) của Camille Pissaro

Nét cọ ở đây nhỏ hơn và gần với chấm Điểm sắc hơn là bố cục vẽ năm 1886. Tuy nhiên, chấm ở đây vẫn chưa đúng là chấm tròn. Màu được phân thành những mảng ấm nhạt tương phản với chủ yếu mảng tối, mát. Màu ấm như cam, vàng xen kẽ trong mảng tối của bóng cây xanh diễn tả những đốm nắng trong bóng mát.

Họa phẩm “Nhịp đập mùa thu”

Qua tác phẩm của mình Pollock muốn nói lên sự ý thức trong tiến trình cấu tạo nên tranh còn đi trước cả kết quả. Chính là vào giai đoạn này mà tác giả cảm thấy cần nên vẽ cởi mở hơn, chính vì muốn vẽ cả ngoài tầm với mà bỏ lối giá vẽ lôi thôi. Bằng cách trải vải xuống sàn nhà hay tường, dùng kỹ thuật nhỏ giọt và dùng những dụng cụ, cọ khô cứng, que và bay thợ nề. Pollock quan sát ở thế đứng và cách khoảng. Vì đi “nhiều” quanh tranh, nên ông vẽ được mọi góc cạnh, nhịp bước trở nên rộng rãi, tay cọ cũng phóng mạnh hơn.

Họa phẩm “Tắm ở Asnière (1883-1884) của Georges Seurat

Seurat là học trò đứng đầu về môn phác họa của Lehmann và Ingres. Những bức vẽ đầu tiên theo tính cách như của Holbein, Poussin và Ingres đều là điều cốt yếu trong sự chín muồi của Seurat. Ông chuyên tâm vẽ đến năm 1882, khéo khai thác tông đối chọi của bút chì trên giấy.

Họa phẩm Bà Cézanne ngồi trên ghế

Hình nhân vật và ghế nghiêng cùng một góc so với khung. Tuy nhiên, chiếc ghế có trục xoay ở dưới cùng của bức tranh và do đó nghiêng về bên trái, trong khi trục của hình mẫu là đầu nhân vật, nghiêng về bên phải. Đầu được neo đậu chắc chắn trên phương thẳng đứng ở trung tâm. Trọng tâm khác của bố cục, đôi tay, hơi đẩy về phía trước theo thái độ hoạt động tiềm năng.

Họa phẩm “Chân dung cô Susanna” (1620-25) của Peter Paul Rubens

Không rõ sự chuẩn bị với chi tiết sơn lót trong thời kỳ đầu của trường phái Hà Lan vì thuốc màu lỏng và mỏng. Sơn lót đóng vai trò quyết định trong ảnh hưởng màu, nhất là màu da, mà phương thức cổ truyền bị đảo ngược. Ánh sáng sơn dày và trong mỡ sơn trùng lên, bóng là phần cặn. Hậu quả quang học làm cho bóng như có màu ngọc trai, mát dịu, ánh sáng như ấm lại. Lạnh và ấm làm nổi cảm giác chỉ bằng độ dày mỏng.

Họa phẩm “Nhà người tự tử” (1873) của Paul Cézanne

Hình dáng vật thế kiên cố, nghiêm trang trong bố cục này đan kết chặt chẽ với nhau trong tương quan hô ứng, đối điểm, tương phản, mà đồng thời lại tương hợp hài hòa. Ngay thị điểm trên đường chân trời dâng cao cũng là cách nhấn mạnh chủ ý trên: Cézanne muốn phối kết ảo ảnh thiên nhiên với thiết kế không gian nhân tạo – đó là chìa khóa mở vào thế giới tạo hình độc đáo của Cézanne.

Họa phẩm Adam & Eve (1825)

Cách vẽ màu keo của Blake liên quan chặt chẽ đến ngành chạm khắc nên tranh minh họa và màu nước của ông phụ thuộc vào nét vẽ phô diễn mọi đường nét trong tranh. Ông cũng tránh vẽ loại hình mờ, dày như các họa sĩ đồng thời dùng sơn dầu. Khi keo khô, nó sẽ bị giòn và nứt rạn.

Họa phẩm "Đức Bà trên núi" (1508) của Leonardo De Vinci

Sự quan tâm của Leonardo về bóng tối và ánh sáng, đã được minh họa bằng màu duy nhất: nâu. Lớp sơn lót bên dưới đã lộ ra ở một vài chỗ vẽ chưa hoàn chỉnh. Thường thì mỗi bức vẽ đều được phác thảo trước và nghiên cứu, nhưng hình như Leonardo không để lại bản nháp nào màu sắc trên nhiều tác phẩm để lại đã phai nhạt với thời gian, xanh lá cây trước kia, nay trở thành màu nâu, xanh dương màu áo bị xỉn đi, sẫm vì bụi và vécni.

Nhận biết ý nghĩa của nghệ thuật

Đây là hình ảnh có thể coi như được chiêm ngưỡng, bởi; nó có nhiều sắc tố đặc biệt do từ chất liệu chính xác của một tâm thức vừa hứng khởi vừa đam mê, một sắc thái phong phú mang tính chất văn chương siêu thoát. Để mà nói thì đây không từ nan cho một diễn cảm dạt dào truyền cảm hoặc một chất lượng giàu trí tưởng của nghệ thuật

Họa phẩm “Lễ rửa tội” (1442) của Piero Della Francesca

Piero vẽ bằng cả hai, tempera và sơn dầu ở “Lễ rửa tội” vì đó là buổi giao thời chuyển từ màu tempera sang sơn dầu. Có những vật chứng cho thấy sự chuyển hướng đó xảy ra từ từ chứ không đột ngột như ta vẫn tưởng. Nhiều nghệ sĩ cùng thời với ông cũng làm như ông, dùng cả hai kỹ thuật tempera và sơn dầu và đôi khi trong cùng một tác phẩm.

Họa phẩm sơn dầu “Trên sông Seine” (1877) của Alfred Sisley

Tác phẩm này của Sisley là một bức hiếm hoi trong số những họa phẩm “Alla prime” vẽ tại chỗ, chỉ một lần, không tô đi đồ lại. Màu mây hồng là do nước sơn da trời mỏng phủ nhẹ lên nền vải màu kem, nên trời cũng có vẻ trong xanh và ấm lên. Nó cho ta cảm thấy bầu không khí tươi mát ở ven sông.

Họa phẩm “Hai ngôi cung và Thánh Dominico, vòm” (1300)

Khám thờ được Duccio vẽ theo kỹ thuật trứng tempera. Tường là nơi diễn tả nghệ thuật thời Trung cổ, sau đó tới da thú, gỗ. Vật liệu cây gỗ vừa dễ kiếm, gọt đẽo, tác phẩm điêu khắc, tượng hay cả kiến trúc.