Mở cửa: Sáng: 8h - 11h30 - Chiều: 13h30 - 17h - Tối: 18h30 - 21h30

Tag: không gian

Các lớp tuyến tạo không gian

Tất cả các khối hình thanh tạo bởi diện phẳng và các bờ cạnh, tất cả các bản diện cong hay phẳng đều có thể chuyển thành dạng thanh (hình 7.76). Một tổ hợp khối đặc, hay không gian có thể ít hấp dẫn về mặt thị giác vì nó bị che khuất cấu trúc bên trong, do vậy để tăng sức hấp dẫn và xử lý cấu tạo có thể chuyển thể trạng khối thành không gian dưới dạng thanh. Các lớp tuyển tạo không gian là kiểu dạng tạo hình mà các thanh cong hay thẳng kết hợp với nhau theo quy luật để tạo ra một diện phẳng, diện cong hay một không gian cụ thể nào đó.

Không gian VL của NTTG (Phần cuối)

Khi hình dạng và đặc điểm của không gian được nhấn mạnh bởi sự tương phản giữa màu trần tối và tường sáng, vị trí của chúng ta trong không gian ấy sẽ được định vị một cách chính xác tới mức một cách vô thức chúng sẽ tìm cách thoát ra. Khi ấy chúng ta sẽ tìm đến khu vực duy nhất trong không gian đầy sức mạnh có điểm nghỉ ngơi, đó là lễ đài hình bán nguyệt.

Không gian vật lý của NT thị giác (Phần 2)

Khoảng không gian khơi gợi từ hình dáng của chiếc cầu có thể được cảm nhận rõ ràng hơn, nếu chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm nó. Vì không giống các tác phẩm khác, khi chúng ta chỉ được nhìn từ bên ngoài, trong tác phẩm này chúng ta có thể thực sự thama nhập vào bên trong của đối tượng. Khi đi bộ lên và xuống dọc theo đoạn cầu, cảm giác mơ hồ, thoáng qua của không gian trở nên hiện hữu, đó là vì khái niệm chính xác về khoảng không trong bất kỳ bộ phận nào của cấu trúc tác phẩm đều như lẩn trốn chúng ta.

Không gian vật lý của NT thị giác (Phần 1)

Càng chú trọng bề mặt của tác phẩm nghệ thuật, người nghệ sỹ sẽ càng nghĩ về nó như một vật thể hữu hình có thể sờ thấy được. Cách tư duy này được thể hiện rõ rang trong tranh của Klimt và cổ áo đính hạt của người Tlingit khi màu sơn hay hạt thủy tinh đóng vai trò quan trọng trong việc gây ấn tượng với chúng ta. Khi nhận thức được bề mặt sơn hay đính hạt, chúng ta sẽ cảm nhận rõ ràng hơn bức tranh và cổ áo là những đồ vật thực tế.

Diện tạo không gian

Trong các thành tố tạo hình ba chiều, diện là quan trọng nhất, diện góp phần chính dựng nên không gian. Việc dùng diện để tạo tác không gian có thể phân làm hai dạng. Dùng một diện đơn tạo không gian và dùng nhiều đơn tạo không gian. Trong mỗi dạng thức lại có nhiều cách xử lý khác nhau nhằm mang lại sự đa dạng cho thể trạng, kiểu loại không gian.

Không gian trong tranh

Khi bàn về màu sắc chúng ta thấy rằng mỗi sắc độ sẽ tương ứng với một khoảng cách nhất định, màu đỏ và các màu ấm trông có vẻ gần ta hơn là màu xanh da trời và màu lạnh. Trước đó, chúng ta cũng được biết rằng sự tương phản sáng tối có thể khơi gợi trong ta một số cảm giác về chiều sâu. Bức họa Phong cảnh mùa đông của họa sỹ Rembrandt (hình 32) còn cho ta thấy rằng đường nét cũng sở hữu khả năng tạo ấn tượng về chiều sâu. Một vài nét bút đậm, hướng nét vẽ theo đường chéo trong một phần của bức tranh cộng thêm vài nét vẽ mờ nhạt khác là tất cả những gì Rembrandt cần để mô tả khung cảnh đồng quê trải dài về phía xa. Rõ ràng là chúng ta rất nhạy...

Không gian trong tranh khắc kim loại VN

Tranh khắc kim loại Việt Nam có nhiều tác phẩm thể hiện sự kỳ công về ngôn ngữ tạo hình. Ở đó là sự công phu tỉ mỉ trong cách xử lý hiệu quả không gian tạo hình. Các họa sĩ đồ họa kết hợp hài hòa các yếu tố đường nét, màu sắc, hình mảng, bút pháp, chất liệu tạo nên không gian trong tranh khắc kim loại Việt Nam. Qua đánh giá về yếu tố không gian trong các tác phẩm tranh khắc kim loại ở các chất liệu đồng, kẽm, inox, có thể thấy, không gian là một trong những yếu tố tạo hình quan trọng của tác phẩm tranh khắc kim loại, mang lại hiệu quả nghệ thuật thị giác mới, thể hiện sự tìm tòi sáng tạo của các họa sĩ đồ họa Việt Nam.

Bố cục không gian

Bố cục không gian là sự hoạch định của chủ thể sáng tạo (họa sỹ, nhà thiết kế, nhà trang trí, kiến trúc sư) về việc phân bố không gian vật lý (trên mặt phẳng hai chiều, trên hình khối ba chiều, trong không gian môi trường sống) dựa trên sự cân nhắc, tính toán trên tổng không gian (vật lý) dùng để thể hiện tác phẩm, sản phẩm (mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp) làm sao cho sự tương quan về diện tích phẳng, về hình khối, về không gian sống của công trình ở mức độ hợp lý hoặc tối ưu, bảo đảm cho mối quan hệ về công năng và thẩm mỹ được thể hiện một cách tốt nhất.

Các dạng hình thể không gian (Phần cuối)

Xoay trong mặt phẳng của bản thân diện, khi đó các góc và cạnh của lát cắt thay đổi về vị trí nhưng phương ngang của lát cắt không thay đổi. Việc quay như vậy cho kết quả một hình vặn vỏ đỗ. Đây là một dạng của cấu trúc xoay tỏa.

Các dạng hình thể không gian (Phần 2)

Vẻ đẹp tạo hình của các khối này biểu hiện ở tính logic của cấu trúc và biến hóa về hình dạng. Do cạnh của các khối đa diện đều và bán đều là bằng nhau nên tổ hợp được cấu kết dế dàng. Các tổ hợp khối đa diện đều và bán đều có thể phát triển theo kiểu lặp lại, kiểu tuyến tính, kiểu phân nhánh, kiểu mạng đa chiều,... Các khối có thể được xử lí kiểu khối đặc, khối rỗng, nửa đặc nửa rỗng, khối khấu trừ, khối trong suốt...

Các dạng hình thể không gian (Phần 1)

Khối cơ bản sau khi chia cắt có thể được tổ hợp lại bằng cách dịch chuyển, xoay, trượt, tịnh tiến,... các phần đã bị chia cắt để tạo nên diện mạo mới. Thủ pháp này nhằm tạo ra một hợp nhóm khối sống động, có chức năng khác nhau ở mỗi phần nhưng vẫn nhận diện và hình dung được khối gốc nên có thể mang lại sự chắc chắn về tạo hình cho tổng thể.

Nhận thức và cấu trúc KG (Phần 2)

Nhận thức thị giác là việc nắm bắt hình dạng của không gian và hình dạng vật chất của các vật thể. Về cơ bản, nhận thức xem ra là sự ghi nhận lối sắp xếp bất biến và cố định của bề mặt các vật thể trong mối quan hệ với những khoảng không gian giãn cách giữa chúng. Theo nhận thức, các bề mặt của vật thể và không gian do chúng định ra hình dạng – và qua đó chúng được định hình – là không thể tách rời.

Nhận thức và cấu trúc KG (Phần 1)

Để tổ chức hình và nền có ba cách làm cơ bản, mỗi cách có thể gây ra những hiệu ứng tri giác khác nhau. Đương nhiên, khi xem một bức vẽ hay một bức tranh, bao giờ người xem cũng bị kích thích tri giác, dù ít hay nhiều. Hình ảnh càng trừu tượng hay càng phi biểu hình, thì những dấu vết vẽ càng có khả năng tạo ra những tình huống không gian mang tính tạo hình thuần túy (đi thẳng vào cốt lõi) - như tôi vừa mô tả ở trên. Đấy cũng là lý do mà bức vẽ trừu tượng như ở H. 2-2 đã được chọn để minh họa: yếu tố liên tưởng ít có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức.

Không gian – Khối và Biến thể của Khối (Phần 2)

Xuất phát từ ba hình học cơ bản và ba khối cơ bản ta sẽ tạo ra được các khối biến thể cơ bản. Các khối này là sự kết hợp các tính chất của cặp đôi một hìn một khối được ghép với nhau. Hình học ở đây đóng vai trò làm thiết diện của khố

Không gian – Khối và Biến thể của Khối (Phần 1)

Khối là một khái niệm vật lý nói lên sự chiếm chỗ trong không gian. Nó bao gồm hai mặt: thể tích tức phần không khí nó lấy mất đi khi có mặt trong một không gian cụ thể và khối lượng của thể tích đó trong quan hệ sức hút của trái đất. Tương quan giữa hai mặt thể tích (tính bằng m3) và khối lượng (tính bằng kg – làm đơn vị gốc) tạo ra khái niệm chung là khối.