Mở cửa: Sáng: 8h - 11h30 - Chiều: 13h30 - 17h - Tối: 18h30 - 21h30

Tag: thị giác

Phép vẽ theo trí nhớ

Xét về bản chất, vẽ gì cũng là vẽ lại từ ký ức, phải dựa vào khả năng nhớ hình ảnh. Ký ức thị giác phân làm 3 dạng: trí nhớ hình ảnh ngắn hạn (short-term visual memory), trí nhớ hình ảnh dài hạn (long-term visual memory), trí nhớ biểu tượng. Ngay khi ta vẽ trực họa thì nếu không có khả năng trí nhớ hình ảnh ngắn hạn, cho phép lưu hình ảnh trong vỏ não, thì ngay khi ta thôi nhìn quả táo trên bàn để nhìn vào trang giấy, bắt đầu những nét vẽ, chúng ta sẽ không sao vẽ nổi.

Hình dạng trong NT thị giác (Phần 2)

Ý nghĩa của hình dạng cũng nằm ở cách tác giả bố cục hình dạng. Thực tế việc hình dạng tác phẩm gợi ý về cơ thể con người là một khía cạnh theo sau thay vì có trước ấn tượng thị giác của chúng ta về hình dạng này Đây chính là bối cảnh để chúng ta hiểu về “khuôn mặt” của vật thể này: nó giống như lời bình của tác giả về bố cục các hình dạng mà ông đã tạo ra, chứ không phải là lời chỉ dẫn về một hình ảnh mà ông mong muốn các hình dạng đó thể hiện.

Hình dạng trong NT thị giác (Phần 1)

Đặc tính của bóng đổ không chỉ phụ thuộc vào chủ thể mà còn phụ thuộc vào loại ánh sáng tạo ra nó và loại bề mặt mà ánh sáng chiếu lên. cạnh của các hình dạng, biến các nhân vật của mình thành các hình dạng với sự tồn tại độc lập và thậm chí có ý nghĩa của riêng chúng thể hiện các vật thể chủ yếu dưới dạng các hình dáng cơ bản tiêm ẫn trong cấu trúc của chúng. Ví dụ, trên cây thánh giá (hình 127), nghệ sĩ đã coi ba thiên thần đang bay không phải là những nhân vật riêng lẻ trên bầu trời, mà là một hình dạng duy nhất trên nền vàng. Mặc dù số lượng các nhân vật vẫn được nhìn thấy rõ ràng, người nghệ sĩ đã hợp nhất và gắn kết chúng lại với nhau t...

Không gian VL của NTTG (Phần cuối)

Khi hình dạng và đặc điểm của không gian được nhấn mạnh bởi sự tương phản giữa màu trần tối và tường sáng, vị trí của chúng ta trong không gian ấy sẽ được định vị một cách chính xác tới mức một cách vô thức chúng sẽ tìm cách thoát ra. Khi ấy chúng ta sẽ tìm đến khu vực duy nhất trong không gian đầy sức mạnh có điểm nghỉ ngơi, đó là lễ đài hình bán nguyệt.

Không gian vật lý của NT thị giác (Phần 2)

Khoảng không gian khơi gợi từ hình dáng của chiếc cầu có thể được cảm nhận rõ ràng hơn, nếu chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm nó. Vì không giống các tác phẩm khác, khi chúng ta chỉ được nhìn từ bên ngoài, trong tác phẩm này chúng ta có thể thực sự thama nhập vào bên trong của đối tượng. Khi đi bộ lên và xuống dọc theo đoạn cầu, cảm giác mơ hồ, thoáng qua của không gian trở nên hiện hữu, đó là vì khái niệm chính xác về khoảng không trong bất kỳ bộ phận nào của cấu trúc tác phẩm đều như lẩn trốn chúng ta.

Không gian vật lý của NT thị giác (Phần 1)

Càng chú trọng bề mặt của tác phẩm nghệ thuật, người nghệ sỹ sẽ càng nghĩ về nó như một vật thể hữu hình có thể sờ thấy được. Cách tư duy này được thể hiện rõ rang trong tranh của Klimt và cổ áo đính hạt của người Tlingit khi màu sơn hay hạt thủy tinh đóng vai trò quan trọng trong việc gây ấn tượng với chúng ta. Khi nhận thức được bề mặt sơn hay đính hạt, chúng ta sẽ cảm nhận rõ ràng hơn bức tranh và cổ áo là những đồ vật thực tế.

Tính thống nhất trong thể hiện

Để hiểu cách xem một tác phẩm nghệ thuật, người nghệ sỹ có thể dựa vào từng yếu tố thị giác để truyền đạt ý tưởng cho chúng ta dưới dạng hình thái trực quan. Ngoài ra, việc tách biệt từng yếu tố giúp nhấn mạnh bản chất cụ thể và khả năng biểu đạt của chúng. Tuy nhiên, chúng ta phải công nhận phương pháp phân tích này đã chia tách các thành phần mà vốn dĩ là một thể thống nhất. Đường nét, màu sắc hoặc ánh sáng và bóng tối không tồn tại tách biệt với nhau trong một tác phẩm nghệ thuật.

Nguồn gốc và quá trình PT tranh in nổi

Lịch sử loài người ghi nhận rằng kỹ thuật tạo khuôn in nổi bằng đất nung hay đá đã có từ thời văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà. Con người thời đó sử dụng chúng để nhân bản các ký tự, dấu hiệu nào đó trên các chất liệu khác nhau. Tuy nhiên, phương pháp nhân bản các tín hiệu thị giác chỉ trở nên hiệu quả và phát triển sau khi con người phát minh ra giấy. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Trung Quốc đã sáng tạo ra cách in thô sơ đầu tiên - in rập, vào khoảng thế kỷ thứ 2, sau khi họ phát minh ra giấy. In rập là hình thức in nổi xuất hiện trước khi khắc gỗ ra đời.

Hình tượng nghệ thuật và thị giác

Hình tượng nghệ thuật là kết quả của sự sáng tạo của nghệ sỹ nói chung trong các lĩnh vực: mỹ thuật, kiến trúc, sân khấu, âm nhạc, văn học, thi ca và nó đạt được hiệu quả thẩm mỹ, nêu được nét riêng của từng chủ thể sáng tạo và nó có khả năng thông đạt ý tưởng. Nó là kết quả sáng tạo của giới nghệ sỹ nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác và nghệ thuật tổng hợp.

Tạo hình và hình thể khung xương

Việc đầu tiên bạn cần làm là phải tìm kiếm từ môi trường xung quanh khoảng năm hay sau vật thể có cấu trúc khung xương. Một khi bắt tay vào, bạn sẽ thấy ngạc nhiên bởi sự đa dạng của những mẫu vật có thể sử dụng được (những thứ có đặc điểm: hoặc là góc cạnh và chia ra từng đoạn hoặc có những cấu hình uốn lượn và phân nhánh): tất cả các loại thân thảo, cành cây non, mầm mới nhú ra từ hạt, những bụi cây có đường nét uốn lượn có gai hoặc trơn nhẵn, lá cây, lông chim, và những bộ khung xương của những loài thú và cá nhỏ. Tuy nhiên, hãy chọn những vật thể có thuộc tính hữu cơ thôi. Một cái lược bằng nhựa, dù có thể có khung xương, cũng không hỗ tr...

Nguyên tắc tổ hợp (Phần 2)

Tính nhịp điệu trong nghệ thuật thường xuất phát từ sự lặp lại của một hay một vài yếu tố nào đó theo quy luật, một chu kì nhằm mang lại vẻ hài hòa và sự cuốn hút cho hành động, cho tác phẩm. Cụ thể với nghệ thuật tạo hình đó là sự lặp lại có nhịp điệu các yếu tố thị giác như: nét, hình dạng, màu sắc, vị trí, chiều hướng hoặc một hình thái cấu trúc theo quy luật nào đó. Sự lặp lại những yếu tố này cần có số lượng lớn hơn ba (hơn ba phần lặp lại) để tạo ra hiệu ứng nhịp điệu.

Nguyên tắc tổ hợp (Phần 1)

Về mặt khái niệm, nguyên lí hay nguyên tắc tổ hợp là các tiêu chí nên đạt được khi sắp xếp các yếu tố thị giác đơn lẻ cùng các nhóm, các bộ phận khác nhau thành một tập hợp hình thể hài hòa, trọn vẹn và mang tính thống nhất, mang lại chất lượng thẩm mĩ, ngữ nghĩa cho tác phẩm, trong không gian hai hay ba chiều.

Màu sắc – yếu tố thị giác căn bản

Màu sắc là yếu tố thị giác tạo ra hiệu ứng mạnh nhất tới cảm xúc của chúng ta. Chúng ta sử dụng màu sắc để tạo ra tâm trạng hay bầu không khí cho một tác phẩm nghệ thuật hay sản phẩm thiết kế. Có rất nhiều cách tiếp cận đối với việc sử dụng màu sắc, hữu dụng cho nghệ sĩ và đặc biệt cần thiết với nhà thiết kế.

Cảm nhận thị giác trong nhận thức TG

Sau khi mắt tiếp nhận hình ảnh, những chu trình thuộc thế hệ thần kinh dẫn thông tin tới trung tâm trí não, tại đây có sự phân loại và định dạng hình ảnh, liên hệ so sánh cực nhanh với tất cả những thông tin về những vật thể mà trước đó người quan sát đã gặp, đã tiếp xúc, đã nhận thức và đã có kinh nghiệm để hệ thống hóa thông tin mới nhận. Nếu thông tin về vật thể không giống những gì đã biết trước đó, người quan sát cần thêm thời gian xem xét lại để định dạng, gọi tên, miêu tả đối tượng.

Những yếu tố CB của hình thể (Phần 1)

Nhận dạng điểm trong tạo hình: Điểm đánh dấu một vị trí trong không gian, về mặt khái niệm nó không có kích thước. Tuy nhiên khi trình bày, hiện hữu trong tạo hình nó phải đủ lớn, có hình dạng, kích thước, sắc độ để có thể nhận thấy bằng mắt thường. Sự nhận thức về hình dạng, kích cỡ của điểm tùy thuộc vào vị trí người quan sát, đồng thời tùy thuộc vào môi trường kề cận quanh điểm. Một điểm có vẻ khá lớn khi bị giới hạn trong khuôn hình nhỏ, cùng điểm đó trong nhỏ hơn khi bị giới hạn trong khuôn hình lớn