Tài liệu dạy vẽ

Tài liệu dạy vẽ bao gồm tổng hợp các tài liệu về các chuyên ngành mỹ thuật bao gồm: dạy vẽ thiếu nhi, giáo trình hình họa, những phương tiện dùng trong giảng dạy, nghiên cứu ánh sáng và hình khối trong không gian...

KHOA THỜI TRANG

Khoa Thời trang được thành lập năm 2004 trên cơ sở của chuyên ngành thời trang được thành lập từ năm 1979 thuộc khoa Đồ họa. Nhiệm vụ của khoa là đào tạo cử nhân thiết kế thời trang, có trình độ khả năng thiết kế sáng tác những sản phẩm Mỹ thuật ứng dụng thuộc lĩnh vực thiết kế thời trang.

KHOA TẠI CHỨC

Chức năng: Tham mưu, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng thực hiện công tác tổ chức quản lý đào tạo đại học hệ Vừa làm vừa học tại trường và liên kết với các đơn vị ngoài trường

KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP

Chức năng nhiệm vụ chính của Khoa là đào tạo các cử nhân Mỹ thuật Công nghiệp từ 4 ngành, có khả năng thiết kế, tạo dáng và trang trí các sản phẩm công nghiệp, mẫu đồ chơi trẻ em, các sản phẩm thủy tinh và kim loại.

KHOA NỘI THẤT

Đào tạo cử nhân họa sĩ, thiết kế trang trí nội ngoại thất các công trình nhà ở, nhà chung cư, biệt thự… các công trình công cộng: Khách sạn, trung tâm hội nghị triển lãm, bảo tàng, nhà trẻ mẫu giáo, khu vui chơi giải trí.., bưu điện, ngân hàng, thư viện, hội chợ quốc tế, v..v.

KHOA ĐỒ HỌA

Khoa Đồ họa Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp hiện tại bao gồm 2 ngành: Thiết kế Đồ họa và Trang trí Dệt.

KHOA MỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG

Gồm 3 ngành: Ngành Thiết kế Trang trí sản phẩm Sơn mài truyền thống Ngành Thiết kế Gốm Ngành Thiết kế Trang sức

Những phương tiện dùng trong giảng dạy

Những phương tiện dùng trong giảng dạy môn hình họa có liên quan chặt chẽ tới phương pháp sư phạm, tới việc thực hiện chưng trình đào tạo và kết quả của môn học, chúng ta có thể đào tạo đưuọc một người biết cầm bút vẽ bằng bất cứ phương tiện giảng dạy như thế nào, Nhưng chúng ta sẽ thất bại nếu muốn đào tạo cho đất nước một thế họa sĩ biết cách làm việc cho phương pháp và đủ sức vươn lên thành những họa sĩ có tầm cỡ bằng những phương tiện giảng dạy, học tập tùy tiện và chắp vá như vậy, chúng ta chắc có đầy đủ kinh nghiệm và căn cứ để chứng minh vấn đề đó gần 10 năm học tập và giảng dạy dưới bom đạn và sơ tán mặc dù hết sức tự hào với nhận loại về lòng dũng cảm, trí sáng tạo và sức chịu đựng vô bờ bến của mình. Với yêu cầu đào tạo hiện nay, mặc dù vẫn còn khó khăn chúng ta cần phải rất coi trọng cơ sở vật chất như là một điều kiện thiết yếu nhất để thực hiện phương pháp đào tạo khoa học, nâng cao chất lượng , giảm bớt thời gian chết , gây hào hứng trong học tập và đạt hiệu quả cao. 1- Trong lĩnh vực nội thất. a) Phòng học :Phòng học dùng để vẽ hình họa tốt nhất là những phòng rộng và cao có thể là những phòng liên thông nhau, khi cần thì có ngăn bằng những vách ngăn có bánh xe di động. Cửa phía ngoài lấy ánh sáng không nên làm như cửa sổ thông thường mà là những cửa kính kiểu lá sách có thể điều chỉnh lượng ánh sáng dễ dàng, độ chếch của ánh sáng thường là sử dụng ở khoảng trên dưới 45 độ vì vậy thường phải cao khoảng ngang vai tức là độ 1m40 là vừa. Phòng học thấp, ánh sáng chiếu ngang không tạo nên được những hình khối rõ ràng và đẹp, làm cho học sinh khó vẽ và hình tạo nên không đẹp. b) Rèm che : Trên cửa lấy ánh sáng phải có 2 loại rèm che, một loại mỏng như lụa và trắng, còn một loại thì đen và dày loại mỏng được dùng trong trường hợp ánh sáng chiếu xiên vào gây nên những vật loang lổ gay gắt thì phải dùng loại rèm này che để ánh sáng chiếu xuống dịu và đều hơn do bị khuyech tán qua lớp màn che mỏng. Loại dày và đen thường dùng trong mùa đông và dưới ánh đèn. Nếu không được che thì ánh sáng đèn và ánh sáng bên ngoài bằng nhau không thể tạo nên hình khối rõ ràng làm cho học sinh khó nhận xét để tập vẽ. Khi che kín lại, nguồn chiếu sáng là đèn trở nên rõ ràng mạnh và dứt khoát hơn, hình khối được phô bày cụ thể, bóng đơn giản làm cho học sinh dễ nhận xét tiếp thu bài giảng và thể hiện bài tập dễ dàng hơnÝ tưởng nghệ thuật thiết kế và vẽ các loài thủy tộc

Ngành Đồ họa Trường MTCN

Đây là chương trình học của sinh viên năm 1,2 ngành Đồ họa Trường MTCN (có thể thay đổi theo các năm)

Ánh sáng và hk trong không gian

Một số không nhỏ các sinh viên sau khi đã ra trường và đã trở thành họa sĩ, cán bộ nghệ thuật, vẫn chưa có được một cái nhìn tổng quát, có sơ sở khoa học và tâm lý để nhận xét sự vật về phương diện thẩm mỹ. Do đó khi sáng tạo cũng như khi nhận xét thường bộc lộ, những nhược điểm, thiếu sót đáng tiếc vì vậy việc cố gắng để trang bị một cách có hệ thống, dù chưa được sâu sắc cũng rất cần thiết đồi với mỗi học sinh khi còn ở trong trường, việc giảng dạy hay học tập không thể tùy tiện, cảm tính, thiếu tính khoa học và hệ thống mà lại có kết qur tốt được. 1- Nguyên tắc của sự nhìn thấy : Chúng ta cso thể nhìn thấy được trước hết là nhờ có mắt. Mắt được cấu tạo tương đương như một cái máy ảnh về mặt vật lý và một hệ thống điều khiển tự động của hệ thống giây thần kinh thị giác nối liền với trung khu tương ứng của nó trong não.Những hình ảnh bên ngoài thông qua hệ thống thần kinh thủy tinh thể, được điều chỉnh một cách tự động với rồi in lên võng mạc. Nhờ một hệ thống giây thần kinh báo tín hiệu cho trung khu thị giác làm cho ta biết hình ảnh của sự vật. Như vậy là trong lĩnh vực của sự nhìn thấy phải có 2 yếu tố chủ quan phải tốt đó là con mắt ống kính máy ảnh của chúng ta và hệ thống giây thần kinh và hệ thống nhận thị cảm ở trung khu thị giác. Mất một trong hai khâu này ta không thể thấy được. Chúng ta được biết có những thương binh do sức ép của bom, hoặc bị chấn thương ở hệ thần kinh thị giác mắt vẫn như mắt người lành mà không nhìn thấy gì cả, hoặc cũng có người bị loạn thị, loạn sắc cũng không thể cho ta nhận xét đúng về sự vật được. Còn nếu hỏng ngay bản thân con mắt – chiếc máy ảnh thì không thấy được là tất nhiên rồi. Tuy nhiên con mắt của chúng ta cũng rất hữu hạn về mặt tinh tường, nó chỉ có thể thấy được trong phạm vi ánh sáng nhất định, trong đêm tối như đêm 30 thì nó chịu không thấy gì được trong khi đó con giơi, con cú, hay con chuột vẫn có thể hoạt động thỏa mái, ánh sáng của tia hồng ngoại , ánh sáng của tia tử ngoại hầu như ở ngoài phạm vi nhìn của mắt người. Vì vậy yếu tố khách quan để ta có thể nhìn thấy được chính là ánh sáng. Phạm vi có thể nhìn được bằng mắt người trong khoảng 400 đến 800 micromet, những bước sóng dài hơn hoặc ngắn hơn mắt người không nhìn thấy được. Trong phòng vẽ yêu cầu phải có đủ độ sáng từ 15 lx đến 20lx thì vẽ không hại mắt, nhất là sự làm việc như vậy kéo dài trong nhiều năm không thể không chú ý được. Ngoài ra ánh sáng hợp lý với công việc và sự thi nhận bình thường không phải giãn đồng tử quá mức hoặc co lại quá mức bảo đảm cho người học sinh không bị mỏi mắt, gây hứng thú và hiệu quả trong lao động. Tuy nhiên như ta biết, quan hệ giữa ánh sáng và tối là tương đối, chiếc đồng hồ có dạ quang ban ngày không hề thấy sáng, chiếc đèn đường quên tắt ban ngày cũng không thấy chiếu sáng như ban đêm, ánh trăng ban ngày dường như không nhận thấy những ngôi sao thì lặn đi hết ….. ta rút ra kết luận rằng con mắt của ta đo độ sáng không chính xác, nó thùa nhận là sáng hay tối trong mối tương quan nhất định giữa sáng và tối hay nói một cách nôm na trời càng tối thì nguồn sáng càng trở nên le lói và trong mối tương quan ấy hình khối càng rõ phía sáng càng sáng phía tối càng tối. Người thầy cần lợi dụng tính chất này để gây hiệu quả trong khi đặt mẫu, hoặc hướng dẫn học sinh tạo được nhiều sắc độ trong tranh mà không cần phải tô đen quá đáng hoặc có thể tạo nên ảo giác ngọn đèn điện chói sáng bằng chính mầu trắng hoặc của mầu vẽ bình thường. Phương chiếu sáng cũng như môi trường ánh sáng trong không gian làm cho hình khối biến dạng và dưới con mắt của chúng ta : một người có thể trở nên to béo khác nhau dưới phương chiếu sáng khác nhau, một người có thể trở nên mềm mại dịu dàng dưới ánh trăng hoặc hình như rắn rỏi hốc hác dưới ánh nắng ban chưa.Phong cảnh núi rừng có thể trở nên rực rỡ dưới ánh nắng ban mai, hoặc cũng có thể trở nên âm u, huyền bí vào lúc hoàng hôn . Tất cả sự phong phú muôn mầu đó đều do ánh sáng mà ra cả . Người thầy có thể và cần phải nắm quy luật hình khối trong không gian bị chi phối bởi ánh sáng như thế nào để có thể chủ động lựa trọn phong cảnh bố trí mẫu cũng như hướng dẫn học sinh tạo ảo giác gây hiệu quả cho bài vẽ. Kinh nghiệm cho thấy người thầy không vận dụng được những kiến thức này vào trong giảng dạy, học sinh thường rất lúng túng trước sự biến đổi của sự vật và thường là vẽ một cách thụ động, hoặc bịa không có cơ sở. Đặc biệt sau này khi dựng tranh thì thiếu sự hiểu biết và quan sát về mặt này sẽ gặp trở ngại không nhỏ.

Cơ sở tạo hình khối

cơ sở tạo hình khối-học vẽ.Một vật thể chiếm một thể tích nhất định trong không gian. Khối hình học chính là những khoảng không gian được giới hạn bởi các mặt phẳng hoặc cong. Khối mang bản chất không gian ba chiều, được xác định bởi kích thước cơ bản: chiều cao, chiều rộng, chiều sâu. Như vậy, khối của một vật thể được nhận biết theo cách vật thể ấy được đặt trong một không gian có giới hạn và xác định (kể cả không gian trong tranh). Khối do hoạ sĩ, nhà điêu khắc hay kiến trúc sư sáng tạo nên, nhằm thể hiện một trong những nhận thức mà con người có thể nắm bắt được môi trường của mình.

Ký họa và vẽ mực nho

Sự khác nhau giữa thể loại này và thể loại khác trong một bộ môn nghệ thuật, không bao giờ có ranh giới tuyệt đối, sự phân chia chỉ có tính chất khái quát chung để tiện nghiên cứu mà thôi. Hình họa và ký họa cũng vậy, một bức ký họa thâm diễn đôi khi cũng giống như một bức hình họa. Tuy nhiên chúng vẫn có những mục đích khác nhau, yêu cầu khác nhau về phương pháp diễn đạt khác nhau. Vạy chúng ta cần phải hiểu không phải để phân biệt hai thể loại nghệ thuật với nhau mà là để biết vận dụng chúng vào từng trường hợp cho đúng cho có hiệu quả cao. Mục đích của một bài hình họa là vẽ nghiên cứu , vẽ để học tập , vẽ để nắm được phương pháp xem xét và diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Còn múc đích của ký họa thì lại khác. Nó nhằm ghi chép lại những hiện tượng thẩm mỹ có tính tạo hình trong cuộc sống, dùng để làm tài liệu, để xây dựng tác phẩm sau này. Hoặc đôi khi tự bản thân bức ký họa cũng đã có đủ phẩm chất của một tác phẩm và nó tồn tại với tư cách là một tác phẩm mỹ thuật ở dạng ký họa. Ký họa không đòi hỏi vẽ một cách đầy đủ chi tiết như một bức hình họa nghiên cứu với một mẫu vẽ ngồi từ ngày này sang ngày khác. Mà điều quan trọng của nó là nhận xét nhạy bén lọc ra được những nét tiêu biểu ngay trong sự tồn tại và vận động thực sự của cuộc sống. Chỉ cần một vài nét, một vải mảng chấm phá là đã có thể nói lên được bản chất, đặc trưng của sự vật đó đó là những yêu cầu vừa phóng khoáng vừa khắt khe của một bức ký họa. Trong lĩnh vực mỹ thuật hiện đại ở nước ta, ký họa chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt. Nó đặc biệt không phải chỉ vì số lượng, mà chính là ở chất lượng thẩm mỹ mà các họa sĩ đã đạt được, ở giá trị tư liệu mà các họa sĩ đã ghi được. Nhất là những bức ký họa trong thời gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã làm cho chúng ta rất xúc động vì tính chân thực, sinh động của các hiện tượng thẩm mỹ được ghi chép lại. Ở nước ta có nhiều cuộc triển lãm trang ký họa phản ánh nhiều mặt trong cuộc sống sản xuất và chiến đấu của nhân dân, , nhiều tập tranh ký họa đã được in- đó là những tài liệu tham khảo rất tốt cho học sinh học tập và nghiên cứu. Ký họa, như trên đã nói là phải ghi lại được những nét tiêu biểu ngay trong sự tồn tại và vận động của cuộc sống, do đó kỹ thuật ghi càng nhanh càng tốt, sức bật càng nhạy bén càng tốt. Người ta còn chia ký họa thành tốc họa và ký họa thâm diễn. Tốc họa tức là vẽ rất nhanh, thường phải tiến hành trong trường hợp phải ghi chép những đối tượng đang hoạt động nhanh thay đổi dáng dấp tư thế luôn luôn. Ví dụ như ghi chép một cuộc hành quân của bộ đội, diễn biến một trận đánh, một cuộc điều hành …… còn ký họa thẩm diễn thì thường sử dụng trong điều kiện đối tượng tương đối tĩnh hoặc hoạt động thường lặp đi lặp lại một cách ổn định chu kỳ. Ví dụ như vẽ chân dung một diễn viên, một chị nông dân, một cảnh thành phố sau trận đánh, một công nhân đang đứng tiện , một cô thợ thêu …v…v.v. b) Phương pháp ký họa – Ký họa không những khác với hình họa về mục đích yêu cầu mà còn khác nhau về phương pháp làm việc. Vẽ hình họa thường phải qua các khâu có tính chất trình tự như bố cục, dựng hình, lên khối tả chất…v..v… Còn ký họa thường tiến hành đồng thời tất cả các yêu cầu trên một nét bút, vẽ là được ngay không tẩy xóa, bởi vì thời gian không cho phép. Ví dụ khi vẽ một cảnh ở cảng chẳng hạn, việc bố cục bức tranh như thế nào người hạo sĩ đã ước lượng sãn các vị trí trên gờ giấy , đường chân trời ngang đầu, mặt nước đến đâu, bờ đến đâu, tàu chỗ nào, cần cẩu chỗ nào…. Chỗ nào đậm nhất trung tâm nhất, chỗ nào nhẹ thoáng, người điểm xuyết vào như thế nào, vẽ bằng chất liệu nào là đạt nhất, đặt bút vẽ cái gì trước, cái gì sau, thời gian cho phép là bao lâu …. Tất cả những thứ đó phải hình thành ngay khi còn đang ngồi ngắm cảnh, nên khi đã cầm bút rồi thì mọi sự rối răm phức tạp đã trở nên rõ ràng và có thể làm một hơi theo kiểu “ nhất khí quán hạ “. Không nên cầm bút để ký họa khi bản thân còn chưa biết làm như thế nào, bức ký họa đó sẽ chắp vá và hỏng. Phương pháp ký họa là một cái gì hết sức linh hoạt, nó có tính chất ứng xử tùy theo đối tượng, tùy theo chất liệu sẵn có , tùy theo múc đích lấy ký họa và tư chất riêng của mỗi họa sĩ. Tuy vậy đối với học sinh, người mà ta cần hướng dẫn để tập sự vào công việc này thì cũng nên nêu một số kinh nghiệm để họ nghiên cứu ứng dụng lúc ban đầu. Ký họa và vẽ mực nho. Ký họa chì, bút sắt, bút máy là những cách ký họa dễ dàng và thuận lợi hơn cả đối với học sinh. Ngoài ra có thể hướng dẫn ký họa bằng mực nho, bút lông, bút dạ khi học sinh đã làm quen với ký họa nên cho tiến hành từ những vật tương đối tĩnh và đơn giản và nâng dần lên vẽ những đối tượng động và phức tạp như cho vẽ ký họa lợn, trâu bò, thuyền bè, đến cây cối phong cảnh, phong cảnh sinh hoạt, công xưởng, chợ búa, phố xá..v…v… Người mới tập vẽ ký họa thường hay bị các chi tiết làm cho rối mắt đồng thời giữa tay và mắt chưa phối hợp nhịp nhàng với nhau nên rất lúng túng vì vậy nên khuyến khích động viên, để họ bạo dạn, hơn là chỉ trích phê phán một thời gian sau đã hơi quen, ta hướng dẫn họ bắt dáng từ những nét khái quát, rồi hướng dẫn để họ hiểu đặc trưng tiêu biểu của mỗi cá thể trong từng loại và cứ như vậy ta đưa họ vào sâu hơn trong phương pháp làm việc. Sau cùng ta mới hướng dẫn họ về bút pháp trong ký họa ( phần này nên cho xem nhiều tài liệu )cái hay, cái ưu thế của mỗi bút pháp, chất liệu, cái hạn chế của mỗi bút pháp chất liệu, đối tượng nào thì nó phát huy được ưu thế, đối tượng nào thì bị hạn chế. Trong lĩnh vực này ta nêu lên hai tổng kết rất hay của danh họa Tề Bạch Thạch .

0976984279